Các thông tin chung về ung thư thanh quản

Theo http://www.uicc.org/

lược dịch: BSNT ĐINH TẤT THẮNG

Các điểm quan trọng trong bài viết này

Ung thư thanh quản là bệnh lý mà các tế bào ác tính ( ung thư) hình thành trong mô thanh quản.

Thanh quản nằm dưới hầu ở vùng cổ. Thanh quản chứa dây thanh, cái mà rung động và tạo ra âm thanh khi không khí tác động trực tiếp vào nó. Tiếng vang của âm thanh đi qua mũi, miệng, và hầu tạo nên giọng của chúng ta.

Hầu hết các loại ung thư thanh quản là ung thư tế bào gai, mỏng, các tế bào dát đẹt lót trong thanh quản.

Thanh quản có ba phần:

  • Thượng thanh môn(supraglottis):phần trên của thanh quản phía trên dây thanh, bao gồm cả nắp thanh thiệt.
  • Thanh môn(Glottis): Phần giữa của thanh quản nơi có 2 dây thanh.
  • Hạ thanh môn(subglottis): phần dưới của thanh quản giữa hai dây thanh và khí quản (windpipe)

Hút thuốc lá và uống chất cồn quá nhiều có thể ảnh hưởng đến việc hình thành ung thư thanh quản.

Những dấu hiệu của ung thư thanh quản bao gồm viêm họng và đau tai.

Các triệu chứng này và các triệu chứng khác có thể do ung thư thanh quản và các tình trạng khác. Bác sỹ nên hội chẩn nếu có bất cứ vấn đề nào sau đây:

  • Viêm họng hoặc ho kéo dài
  • Nuốt khó hoặc nuốt đau.
  • Đau tai
  • Khối u ở cổ hoặc họng
  • Khàn tiếng hoặc đổi giọng.

Các xét nghiệm khám họng và cổ được sử dụng để phát hiện, chẩn đoán và đánh giá giai đoạn ung thư thanh quản.

Các xét nghiệm và thủ thuât sau được sử dụng:

  • Thăm khám thực thể họng và cổ:Thăm khám khi nhận thấy có hạch sưng ở cổ và quan sát qua gương để đánh giá các bất thường.
  • Nội soi thanh quản: Thủ thuật được các bác sỹ dùng để thăm khám vùng thanh quản với gương hoặc với optic soi thanh quản.
  • Nội soi: đánh giá các bất thường của các vùng qua đó có thể bấm sinh thiết chỗ nghi ngờ.
  • CT scan (CAT scan): Các hình ảnh chi tiết đánh giá các vùng  bên trong cơ thể, với các góc khác nhau.Có thể chụp có thuốc qua đường tĩnh mạch hoặc uống để giúp cho các tạng và mô được thấy rõ hơn.  Phương tiện này còn được gọi là cắt lớp vi tính. A
  • MRI (Hình ảnh cộng hưởng từ): Phương tiện sử dụng từ trường, sóng radio, và máy vi tính để tạo nên chuỗi các hình ảnh chi tiết đánh giá các vùng trong cơ thể.
  • Sinh thiết: Lấy các mô hoặc các tế bào để có thể  quan sát dưới kính hiển vi tìm tế bào ác tính.
  • Uống Barium: Chụp phim sau khi cho bệnh nhân uống dung dịch chứa Bari(một hợp chất kim loại màu trắng bạc).Chất này sẽ tráng lòng thực quản và dạ dày, chiếu chùm tia X sau đó. Thủ thuật này được gọi là chụp nhuộm đường tiêu hóa trên.

Các yếu tố chắc chắn ảnh hưởng đến tiên lượng( cơ hội và sự phục hồi) và các lựa chọn điều trị.

Tiên lượng (số phận và sự bình phục)  tùy thuộc vào các yếu tố sau: dep

  • Giai đoạn bệnh.
  • Vị trí và kích thước của khối u
  • Loại u
  • Tuổi bệnh nhân, giới, tình trạng sức khỏe chung, kể cả kèm với tình trạng thiếu máu.

Lựa chọn điều trị theo các yếu tố sau:

  • Giai đoạn bệnh
  • Vị trí và kích thước của khối u
  • Giữ cho bệnh nhân khả năng nói, ăn và thở như bình thường ở mức có thể.
  • Khi ung thư trở lại( tái phát)

Hút thuốc và uống chất cồn làm giảm hiệu quả điều trị ung thư thanh quản. Các bệnh nhân bị ung thư thanh quản  tiếp tục hút thuốc và uống chất cồn thì ít khi điều trị hiệu quả  và nhiều khả năng xuất hiện khối u thứ hai. Sau khi điều trị ung thư thanh quản,  theo dõi thường xuyên và đều đặn là khá quan trọng.

Các giai đoạn của ung thư thanh quản

Các điểm chốt của phần này

Sau khi được chẩn đoán ung thư thanh quản, các xét nghiệm được thực hiện để  tìm các tế bào ung thư và đánh giá sự lan rộng của ung thư bên trong thanh quản hoặc qua các phần khác trong cơ thể.

Giai đoạn là thuật ngữ để chỉ sự lan rộng của ung thư  từ nơi xuất phát ra lân cận và qua các vùng khác.Nhiều yếu tố gọp lại để đánh giá giai đoạn của bệnh. Giai đoạn bệnh  rất quan trọng để đưa ra kế hoạch điều trị . Kết quả của các xét nghiệm được sử dụng để chẩn đoán ung thư thanh quản cũng được sử dụng để đánh giá giai đoạn bệnh.

Có ba cách để ung thư lan rộng trong cơ thể đó là:

  • Qua mô.Ung thư xâm lấn các mô bình thường xung quanh.
  • Qua hệ thống bạch mạch.  Ung thư có thể xâm lấn vào hệ thống hạch và đi vào các bạch mạch để tới các nơi khác trong cơ thể.
  • Qua máu. Ung thư xâm lấn vào tĩnh mạch và các mao mạch và đi theo mạch máu để tới các nơi khác trong cơ thể.

Khi các tế bào ung thư đi xa khỏi nơi tiên phát của nó và đi vào hạch hoặc máu để tới các nơi khác trong cơ thể, hình thành nên khối u thứ hai(thứ phát).Quá trình này được gọi là di căn. Khối u di căn cùng loại với khối u tiên phát.   Ví dụ, nếu u tuyến vú di căn xương, các tế bào ung thư  ở trong xương thực sự là các tế bào ung thư vú. Được gọi là  ung thư vú di căn xương, không  phải là ung thư xương.

Các giai đoạn sau được sử dụng cho ung thư thanh quản:

Giai đoạn 0 (Carcinoma in Situ) Trong giai đoạn 0, các tế bào bất thường được thấy ở tại thanh quản. Các tế bào bất thường này có thể trở thành ung thư và lan rộng vào gần mô bình thường. Giai đoạn 0 được gọi là ung thư biểu mô tại chỗ.  ( carcinoma in situ.)

Giai đoạn I

Giai đoạn I, ung thư đã hình thành. Giai đoạn I khối ung thư thanh quản tùy thuộc vào nơi được tìm thấy ở thanh quản:

  • Thượng thanh môn: ung thư ở một vùng của thượng thanh môn và dây thanh còn di động bình thường.
  • Thanh môn:ung thư ở một hoặc hai dây thanh và hai dây thanh còn di động bình thường.
  • Hạ thanh môn: ung thư chỉ ở dưới hạ thanh môn

Giai đoạn II

Ở giai đoạn II, khối u cũng chỉ ở thanh quản. Theo vị trí ở thanh quản mà giai đoạn II được chia như sau:

  • Thượng thanh môn:ung thư ở nhiều hơn một vùng của thượng thanh môn hoặc các mô xung quanh.
  • Thanh môn:ung thư lan rộng vào thượng thanh môn và/hoặc hai dây thanh di động không bình thường.
  • Hạ thanh môn: ung thư đã lan rộng vào một hoặc hai bên dây thanh, làm hai dây thanh di động không bình thường.
Hạt đậu,hạt lạc, quả óc chó, và quả chanh để chỉ kích thước khối u.

Giai đoạn III

Ung thư thanh quản giai đoạn III tùy thuộc vào sự lan rộng vào thượng thanh môn, thanh môn hay hạ thanh môn.

Trong giai đoạn III của thượng thanh môn:

  • Ung thư chỉ ở thanh quản và hai dây thanh di động không bình thường, và hoặc ung thư ở mô kế cạnh của thanh quản; ung thư có thể lan vào hạch bạch huyết ở cùng bên cổ từ chỗ xuất phát u và hạch lớn hơn 3cm; hoặc
  • Ung thư chỉ ở một vùng của thượng thanh môn và hạch ở cùng bên cổ với khối u xuất phát; hạch nhỏ hơn 3cm và dây thanh có thể di động bình thường,hoặc
  • Ung thư ở nhiều hơn một vùng của thượng thanh môn hoặc mô xung quanh và ở một hạch cùng bên cổ mà khối u xuất phát, hạch dưới 3cm và /hoặc dây thanh di động không bình thường.

Trong giai đoạn III của ung thư thanh môn:

  • Ung thư chỉ ở thanh quản và hai dây thanh không di động bình thường, và /hoặc là mô kế cận thanh quản; ung thư có thể lan rộng vào hạch ở cùng bên cổ với khối u xuất phát và hạch nhỏ hơn 3cm; hoặc
  • Ung thư ở một hoặc hai bên dây thanh và ở hạch cùng bên cổ với u xuất phát; hạch nhỏ hơn 3cm và dây thanh có thể di động bình thường; hoặc
  • Ung thư lan rộng lên thượng thanh môn và/hoặc xuống hạ thanh môn và hoặc hai dây thanh di động không bình thường. Ung thư cũng lan vào hạch ở cùng bên cổ với khối u xuất phát và hạch  nhỏ hơn 3cm.

Trong giai đoạn III của ung thư hạ thanh môn:

  • Ung thư chỉ  ở thanh quản và hai dây thanh không di động bình thường; ung thư có thể lan rộng vào hạch bạch huyết ở cùng bên cổ với chỗ phát khối u và hạch nhỏ hơn 3cm; hoặc
  • Ung thư ở hạ thanh môn và hạch ở một bên cổ với vị trí u xuất phát; hạch nhỏ hơn 3cm; hoặc
  • Ung thư lan rộng vào một hoặc hai dây thanh, làm di động không bình thường, và hạch ở cùng bên với chỗ xuất phát của khối u; hạch nhỏ hơn 3cm.

Giai đoạn IV

GIai đoạn IV được chia thanh IVA, IVB, và IVC. Mỗi phần  này giống nhau ở thượng thanh môn, thanh môn và hạ thanh môn.

  • Giai đoạn IVA:
    • Ung thư lan rộng qua sụn giáp và/hoặc lan rộng vào mô trước thanh quản như cổ, khí quản, tuyến giáp, hoặc thực quản, và có thể lan vào hạch ở cùng bên cổ với khối u xuất phát; hạch nhỏ hơn 3cm; hoặc
    • Ung thư lan rộng vào một hoặc hơn nhiều hạch ở bất cứ nơi nào ở cổ và hạch nhỏ hơn 6cm; ung thư có thể lan rộng vào phía trước thanh quản, ví dụ như cổ, khí quản, tuyến giáp, hoặc thực quản. Dây thanh có thể cố định.
  • Giai đoạn IVB:
    • Ung thư lan rộng vào khoảng trước cột sống và quanh động mạch cảnh, hoặc lan vào các phần của lồng  và có thể lan rộng vào một hoặc nhiều hạch ở bất cứ nơi nào ở cổ ( hạch có kích thước bất kỳ); hoặc
    • Ung thư lan rộng vào hạch mà có kích thước lớn hơn 6cm và có thể lan rộng ra xa vào khoảng trước cột sống, quanh động mạch cảnh hoặc các phần của ngực. Dây thanh cố định.
  • Giai đoạn IVC, ung thư lan rộng vào phía trước của thanh quản và các phần khác trong cơ thể.
Ung thư thanh quản tái phátUng thư thanh quản tái phát là ung thư trở lại sau khi đã được điều trị. Ung thư hầu như quay lai ở 2-3 năm đầu tiên. Nó có thể trở lại ở thanh quản hay bất cứ nơi nào khác trong cơ thể.

Tổng quan lựa chọn điều trị

Các điểm chốt trong phần này

Có nhiều hình thức điều trị khác nhau đối với bệnh nhân bị ung thư thanh quản

Có nhiều hình thức điều trị khác nhau đối với những bệnh nhân bị ung thư thanh quản.  Một vài phương pháp điều trị tiêu chuẩn ( đang được sử dụng), và một vài phương pháp đang trong thử nghiệm lâm sàng. Điều trị thử nghiệm lâm sàng được nghiên cứu giúp cải thiện cho điều trị hiện tại hoặc nhằm đạt được những thông tin điều trị mới đối với bệnh nhân bị ung thư.   Khi thử nghiệm lâm sàng cho thấy điều trị mới tốt hơn phương pháp điều trị tiêu chuẩn.  Bệnh nhân có thể muốn nghĩ về việc tham gia vào các thử nghiệm lâm sàng này. Một vài thử nghiệm lâm sàng được mở ra chỉ cho những bệnh nhân không điều trị.

Có 3 hình thức điều trị được lựa chọn:

Xạ trị là điều trị ung thư mà sử dụng tia X năng lượng cao hoặc các loại tia xạ để giết các tế bào ung thư.Có 2 loại tia xạ. Tia xạ ngoài sử dụng máy ngoài cơ thể để chiếu tia xạ vào khối ung thư. Tia xạ trong sử dụng các chất phóng xạ (radioactive substance)  thông qua tiêm, bao áp, dây dẫn hoặc catheter đặt trực tiếp vào hoặc gần khối ung thư. Sử dụng xạ trị được chỉ định dựa vào loại và giai đoạn của ung thư để điều trị.

Xạ trị có thể ứng dụng tốt  ở những bệnh nhân bỏ thuốc trước khi bắt đầu điều trị. Liệu pháp xạ trị ngoài tới tuyến giáp hoặc tuyến yên có thể làm thay đổi cách làm việc của tuyến giáp. Bác sỹ có thể kiểm tra chức năng tuyến giáp trước và sau liệu pháp để chắc chắn chức năng còn làm việc tốt.

Phẫu thuật:

Phẫu thuật ( lấy bỏ ung thư bằng phẫu thuật) là phương pháp điều trị phổ biến cho tất cả ung thư thanh quản. Các phương pháp phẫu thuật sau có thể được sử dụng đó là:

  • Cắt dây thanh: Phẫu thuât chỉ cắt bỏ dây thanh.
  • Cắt thanh quản thượng thanh môn: Phẫu thuật chỉ lấy bỏ thượng thanh môn.
  • Cắt thanh quản bán phần: Phẫu thuật để lấy bỏ nửa thanh quản. Sau phẫu thuật có thể bảo tồn được giọng nói.
  • Cắt thanh quản một phần: Phẫu thuật để lấy bỏ phần thanh quản. Cắt bỏ một phần thanh quản giúp giữ lại cho bệnh nhân khả năng phát âm.
  • Cắt thanh quản toàn phần: Phẫu thuật cắt toàn bộ thanh quản. Trong phẫu thuật, mở khí quản là thì đầu tiên để tạo một đường thở mới cho bệnh nhân.
  • Cắt tuyến giáp:  lấy bỏ toàn bộ tuyến giáp
  • Phẫu thuật bằng laser: phẫu thuật sử dụng tia laser (tia ngăn có ánh sáng  mạnh) như một dao làm cắt đứt mạch máu ở mô hoặc lấy bỏ tổn thương bề mặt như khối u.

Thậm chí bác sĩ lấy bỏ tất cả khối ung thư mà có thể thấy trong lúc phẫu thuật, một vài bệnh nhân có thể kết hợp hóa trị hoặc xạ trị sau phẫu thuật để giết bất cứ tế bào nào còn sót lại. Điều trị sau phẫu thuật,cho nguy cơ thấp hơn đối với ung thư tái phát, được gọi là điều trị bổ trợ  (adjuvant therapy.)

Hóa trị

Hóa trị là điều trị ung thư sử dụng các loại thuốc làm ngừng sự phát triển của các tế bào ung thư, không những giết các tế bào mà còn làm ngừng sự phân chia tế bào. Khi hóa trị bằng đường uống hoặc tiêm qua tĩnh mạch hoặc cơ, thuốc đi vào dòng máu có thể đến các tế bào ung thư qua cơ thể ( hóa trị hệ thống). Khi hóa trị đưa trực tiếp vào cột sống,một tạng hoặc một khoang cơ thể nào như ổ bụng, thuốc phần lớn tác động đến các tế bào ung thư ở vùng đó( hóa trị vùng). Cách mà hóa trị đem lại tùy thuộc vào loại và giai đoạn ung thư đang điều trị.

Các cách điều trị mới trong giai đoạn thử nghiệm lâm sàng.

Chemoprevention = chemoprophylaxis: hóa dự phòng

Chemoprevention is the use of drugs, vitamins, or other substances to reduce the risk of developing cancer or to reduce the risk cancer will recur (come back). The drug isotretinoin is being studied to prevent the development of a second cancer in patients who have had cancer of the head or neck.

Radiosensitizers : các chất cảm thụ bức xạ

Radiosensitizers are drugs that make tumor cells more sensitive to radiation therapy. Combining radiation therapy with radiosensitizers may kill more tumor cells.

Patients may want to think about taking part in a clinical trial.

For some patients, taking part in a clinical trial may be the best treatment choice. Clinical trials are part of the cancer research process. Clinical trials are done to find out if new cancer treatments are safe and effective or better than the standard treatment.

Many of today’s standard treatments for cancer are based on earlier clinical trials. Patients who take part in a clinical trial may receive the standard treatment or be among the first to receive a new treatment.

Patients who take part in clinical trials also help improve the way cancer will be treated in the future. Even when clinical trials do not lead to effective new treatments, they often answer important questions and help move research forward.

Patients can enter clinical trials before, during, or after starting their cancer treatment.

Some clinical trials only include patients who have not yet received treatment. Other trials test treatments for patients whose cancer has not gotten better. There are also clinical trials that test new ways to stop cancer from recurring (coming back) or reduce the side effects of cancer treatment.

Clinical trials are taking place in many parts of the country. See the Treatment Options section that follows for links to current treatment clinical trials. These have been retrieved from NCI’s clinical trials database.

Các xét nghiệm theo dõi có thể cần thiết.

Some of the tests that were done to diagnose the cancer or to find out the stage of the cancer may be repeated. Some tests will be repeated in order to see how well the treatment is working. Decisions about whether to continue, change, or stop treatment may be based on the results of these tests. This is sometimes called re-staging.

Some of the tests will continue to be done from time to time after treatment has ended. The results of these tests can show if your condition has changed or if the cancer has recurred (come back). These tests are sometimes called follow-up tests or check-ups.

Lựa chọn điều trị theo giai đoạn

Stage I Laryngeal Cancer
Stage II Laryngeal Cancer
Stage III Laryngeal Cancer
Stage IV Laryngeal Cancer

Giai đoạn I

Điều trị trong giai đoạn I của ung thư thanh quản tùy thuộc vào vị trí của ung thư thanh quản tìm thấy:

Nếu ung thư ở thượng thanh môn, điều trị có thể bao gồm như sau:

  • Xạ trị
  • Cắt thanh quản thượng thanh môn

Nếu là ung thư thanh môn, điều trị có thể bao gồm:

Nếu ung thư ở hạ thanh môn, điều trị có thể bao gồm:

  • Xạ trị kèm theo hoặc không phẫu thuật.
  • Phẫu thuật đơn thuần. .

Giai đoạn II của ung thư:

ĐIều trị giai đoạn II của ung thư tùy thuộc vào nơi mà ung thư tìm thấy ở thanh quản.

Nếu ung thư ở thượng thanh môn, điều trị có thể bao gồm:

  • Radiation therapy= xạ trị
  • Supraglottic laryngectomy ( cắt thanh quản thượng thanh môn) hoặc cắt thanh quản toàn phần kèm theo hoặc không có xạ trị.
  • Thử nghiệm lâm sàng xạ trị
  • Thử nghiệm lâm sàng với phương pháp chemoprevention.

Nếu ung thư ở thanh môn, điều trị có thể bao gồm:

  • Xạ trị
  • Partial laryngectomy( cắt thanh quản một phần), hemilaryngectomy( cắt thanh quản bán phần) hoặc cắt thanh quản toàn phần.
  • Laser surgery: phẫu thuật laser
  • Thử nghiệm lâm sàng với xạ trị
  • Thử nghiệm lâm sàng với chemoprevention.

Nếu ung thư ở hạ thanh môn, điều trị có thể  bao gồm:

  • Xạ trị mà không có phẫu thuật
  • Surgery alone: phẫu thuật đơn thuần
  • thử nghiệm lâm sàng xạ trị
  • thử nghiệm lâm sàng với hóa dự phòng

Đối với giai đoạn III

Điều trị giai đoạn III của ung thư thanh quản tùy vào nơi ung thư được tìm thấy ở thanh quản

Nếu ung thư ở thượng thanh môn hoặc thanh môn, điều trị có thể bao gồm như sau:

  • Phẫu thuật kèm theo hoặc không xạ trị
  • Xạ trị kèm theo hoặc không phẫu thuật
  • Thử nghiệm lâm sàng với xạ trị
  • Thử nghiệm lâm sàng với hóa trị kết hợp với xạ trị, kèm theo hoặc không cắt thanh quản.
  • Thử nghiệm lâm sàng với các chất gây cảm thụ bức xạ
  • Thử nghiệm lâm sàng với  chemoprevention.

Nếu ung thư ở hạ thanh môn, điều trị gồm:

  • Cắt  thanh quản cọng với cắt tuyến giáp toàn bộ và vét hạch ở họng, thường kèm theo xạ trị.
  • Xạ trị kèm theo hoặc không phẫu thuật
  • Thử nghiệm lâm sàng với xạ trị
  • Thử nghiệm lâm sàng với hóa trị
  • Thử nghiệm lâm sàng với các chất cảm thụ bức xạ( radiosensitizers.)
  • Thử nghiệm lâm sàng với hóa dự phòng

Giai đoạn IV

Điều trị giai đoạn IV tùy thuộc vào vị trí của ung thư thanh quản được tìm thấy.

Nếu ung thư ở thượng thanh môn hoặc thanh môn, điều trị có thể gồm:

  • Cắt thanh quản toàn phần kèm theo xạ trị.
  • Xạ trị kèm theo hoặc không phẫu thuật  .
  • Thử nghiệm lâm sàng với xạ trị
  • Thử nghiệm lâm sàng với hóa trị kết hợp với xạ trị, kèm theo hoặc không có cắt thanh quản.
  • Thử nghiệm lâm sàng với hóa trị.
  • Thử nghiệm lâm sàng với các chất cảm thụ bức xạ (radiosensitizers.)
  • Thử nghiệm lâm sàng với chemoprevention.

Nếu ung thư hạ thanh môn, điều trị bao gồm các cách sau:

  • Cắt thanh quản cọng với cắt toàn bộ tuyến giáp và vét hạch ở họng, thường kèm theo xạ trị.
  • Xạ trị
  • Thử nghiệm lâm sàng xạ trị
  • Thử nghiệm lâm sàng hóa trị kết hợp với xạ trị.
  • Thử nghiệm lâm sàng với hóa trị
  • Thử nghiệm lâm sàng với các chất cảm thụ bức xạ.
  • thử nghiệm lâm sàng với hóa dự phòng

Điều trị ung thư thanh quản tái phát gồm những cách sau:

  • Phẫu thuật kèm theo có xạ trị hoặc không
  • Xạ trị
  • Hóa trị
  • Thử nghiệm lâm sàng hóa trị như là liệu pháp tạm thời để làm giảm các triệu chứng cdo ung thư và làm cải thiện chất lượng của cuộc sống.

Gửi phản hồi

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: