Viêm V.A

Theo blog1nguoiviet.com

VA là một tổ chức lympho giống như amidan nằm tại vòm mũi họng, không thể nhìn thấy qua đường mũi, do vậy chỉ quan sát rõ khi nội soi. Ở trẻ bình thường VA chỉ là lớp niêm mạc vòm hơi dầy. Trẻ em từ 6 tháng đến 4 tuổi do kháng thể từ mẹ bắt đầu giảm, kháng thể của trẻ chưa đủ, một số em có bất thường trong hốc mũi như vẹo xương, cuốn mũi lớn, dị ứng, kèm theo điều kiện môi trường sống ô nhiễm nên hay bị viêm mũi họng, viêm VA. Khi VA bị viêm nhiều lần, sẽ phát triển quá mức che kín cửa mũi sau, gây ra tắc nghẽn đường thở, làm cho trẻ thường xuyên nghẹt mũi, khi ngủ không thở được bằng mũi, phải há mồm thở, ngủ ngáy, giấc ngủ không sâu, thường xuyên gây viêm tai giữa, viêm đường hô hấp trên.
SNAG-0007
Hình ảnh cửa mũi sau được soi vòm qua đường họng (hình T) và soi vòm trực tiếp qua hốc mũi (hình P). Vòm mũi họng thông thoáng.
TRIỆU CHỨNG
Sốt cao 39 – 40độ, đôi khi gây ra co giật.
Nghẹt mũi: bé không thở được bằng mũi do VA lớn.
Ngủ ngáy : thường há mồm thở , hẹp đường thở, ngủ ngáy.
Chảy mũi: lúc đầu chảy mũi trong sau đó chảy mũi có màu trắng, vàng, tanh, thường xuyên chảy mũi.
Tiêu chảy:do bé nuốt đàm, dịch, mủ từ VA chảy xuống nên bụng thường khó tiêu, hay bị tiêu chảy.
Chán ăn: do bụng thường xuyên rối loạn tiêu hoá nên chán ăn.
Quấy khóc, giấc ngủ chập chờn không sâu: do nghẹt mũi, khó thở nên ngủ chập chờn, hay giật mình và quấy khóc về đêm.
Bộ mặt sùi vòm: răng hô, trán rô, răng mọc không đều.
Nội soi: VA lớn nằm ở vòm mũi họng, sần sùi, che kín cửa mũi sau.
SNAG-0008
BIẾN CHỨNG
1. Viêm nhiễm đường hô hấp trên:
Do VA nằm ở nóc vòm nên mủ có thể chảy xuống họng gây ra viêm mũi họng, viêm đường hô hấp trên.
2. Viêm tai giữa cấp:
Sốt cao 39-40 độ C. Vi khuẩn từ VA theo đường vòi nhĩ lên tai gây viêm tai giữa cấp: lúc đầu màng nhĩ đỏ, phồng, trẻ than đau tai. Sau đó màng nhĩ mờ hơn do có dịch, mủ trong hòm nhĩ. Sau cùng màng nhĩ bị thủng, mủ chảy ra ống tai ngoài.
SNAG-0010
Hình ảnh màng nhĩ xung huyết, căng, phồng ở bệnh nhi bị
viêm VA gây biến chứng viêm tai giữa cấp.
SNAG-0011
Hình ảnh thủng màng nhĩ phồng sau viêm tai giữa cấp,
nếu không được điều trị sẽ nghe kém, biến chứng nội sọ.
3. Viêm tai giữa tiết dịch:
VA quá phát gây tắc vòi nhĩ làm thay đổi áp lực trong hòm nhĩ, xuất tiết dịch, nghe kém. Nếu không được điều trị tích cực dịch đọng lại trong hòm nhĩ, màng nhĩ lõm dính vào thành trong. Lâu dần gây ra điếc dẫn truyền và hình thành Cholesteatome vùng màng chùng.
SNAG-0012
Hình ảnh màng nhĩ lõm, dính vào thành trong hòm nhĩ do viêm
VA gây biến chứng viêm tai giữa tiết dịch.
4. Viêm Amidan cấp:
Đau họng, amidan sưng đỏ, nuốt đau, sốt cao.
5. Viêm thanh quản:
Mủ từ VA đổ xuống họng gây ra viêm thanh quản cấp, khàn tiếng, ho, khó thở thanh quản.
6. Phế quản phế viêm:
Sau khi mủ tràn qua hạ họng, xuống thanh quản và chảy vào phế quản gây ra viêm phế quản, phế viêm, nếu nặng sẽ viêm phổi. Bệnh nhân khó thở cà thì hít vào và thở ra, có nhiều tiếng rít, ran ẩm, ran nổ hai phổi.
7. Rối loạn tiêu hóa:
Một phần mủ chảy vào đường tiêu hóa hay do trẻ nuốt vào dạ dày gây ra rối loạn tiêu hóa, đầy hơi, hay ói, chán ăn, đi cầu phân lỏng, lơn cợn hay sống.
8. Dị dạng sọ mặt:
Do VA quá phát gây bít nghẽn đường thở, thiếu oxy, trẻ thường xuyên thở bằng miệng, thiếu tập trung, hay ngủ gật. Xương hàm trên không phát triển, hô, hàm dưới bị đẩy ra trước. Lưỡi tụt vào trong. Đầu cổ không còn bình thường, khuôn mặt bị biến dạng, ngờ nghệch mà chuyên môn gọi làbộ mặt sùi vòm.
9. Nghẹt mũi và ngưng thở khi ngủ:
Do VA lớn làm bít tắc cửa mũi sau và Amidan khẩu cái to làm cho trẻ không thở được bằng mũi, phải há mồm để thở, dẫn đến giảm thông khí phế quản, lâu dần giãn phế nang, nếu kéo dài sẽ bị suy tim trái. Khi ngủ thường bị ngưng thở mỗi lần khoảng 10 giây, mỗi đêm ngưng thở vài chục lần.
CHẨN ĐOÁN
Chẩn đoán dựa vào tiền sử bệnh: hay sổ mũi, hay sốt vặt.
Nội soi vòm mũi họng VA lớn che của mũi sau của trẻ.
SNAG-0013
Khám nội soi tai mũi họng trẻ em tại bệnh viện Tai mũi họng Sài Gòn có thể phát hiện viêm VA ở trẻ nhỏ từ 1 tuổi.
ĐIỀU TRỊ
– Điều trị nội khoa: giữ vệ sinh răng miệng. Cho trẻ ăn đủ dinh dưỡng. Giữ vệ sinh mũi, họng: rửa mũi, nhỏ mũi bằng dung dịch nước muối 9%0, xúc họng nước sạch sau khi ăn. Phối hợp dùng thuốc kháng sinh, kháng viêm, sinh tố.
– Điều trị ngoại khoa: nạo VA bằng Coblator.
SNAG-0014
Phẫu thuật nạo VA bằng Coblator dưới nội soi tại bệnh viện Tai mũi họng Sài Gòn

http://taimuihongsg.annetco.info/vie/Kien-thuc/Cac-benh-ve-Hong/Viem-VA

————————

Viêm V.A

Trong họng có nhiều tổ chức lympho rải rác khắp niêm mạc hoặc tập trung thành từng khối ở mặt trước của họng gọi là vòng Waldeyer trong đó có: Amiđan vòi (amygdale de gerlach) và Amiđan vòm họng (amygdale de luschka). Khi tổ chức này viêm và quá phát thành khối gọi là sùi vòm họng V.A (Végétations Adenoides), gây cản trở đến việc hít thở không khí. Bình thường khối V.A phát triển đến 6-7 tuổi thì teo hết, cá biệt có thể thấy ở người trưởng thành.Tỷ lệ viêm V.A ở nước ta khoảng 30% trẻ em, lứa tuổi nhiều nhất là 2-5 tuổi.

1. Viêm V.A cấp tính.

Là viêm nhiễm cấp tính, xuất tiết hoặc có mủ ở Amiđan de Lushka ngay từ nhỏ, cũng có thể gặp ở trẻ lớn và người lớn (nhưng rất hiếm).

1.1. Nguyên nhân.

–          Virus: Adenovirus, Myxovirus, Rhinovirus…-          Vi khuẩn: Tụ cầu vàng, liên cầu khuẩn tan huyết bêta nhóm A, Haemophilus Influenzae…

1.2. Triệu chứng.

1.2.1.Triệu chứng toàn thân: Ở hài nhi, bắt đầu đột ngột, sốt cao 400-410C, thường kèm theo những hiện tượng phản ứng dữ dội như: co thắt thanh môn, co giật. Ở trẻ lớn hơn cũng có thể bắt đầu đột ngột sốt cao, kèm theo thanh quản co thắt, đau tai và có khi có phản ứng màng não nhưng diễn biến nhẹ hơn ở hài nhi.1.2.2.Triệu chứng cơ năng: Trẻ tắc mũi, hài nhi có thể tắc mũi hoàn toàn phải thở bằng miệng, thở nhanh, nhịp không đều, bỏ ăn, bỏ bú. Trẻ lớn hơn không bị tắc mũi hoàn toàn nhưng thở ngáy, nhất là về đêm, tiếng nói có giọng mũi kín. Ở người lớn nếu có còn bị viêm họng sau lưỡi gà, ù tai, nghe kém.1.2.3.Triệu chứng thực thể: Hốc mũi đầy mủ nhầy, không thể hoặc khó khám vòm họng qua mũi trước. Ở trẻ lớn, sau khi hút sạch mũi nhầy trong hốc mũi đặt thuốc làm co niêm mạc mũi có thể nhìn thấy tổ chức V.A ở nóc vòm phủ bởi lớp mũi nhầy. Khám họng thấy niêm mạc đỏ, một lớp nhầy trắng, vàng phủ trên niêm mạc thành sau họng từ trên vòm chảy xuống.            Khám tai: màng nhĩ mất bóng, trở nên xám đục, hơi lõm vào do tắc vòi nhĩ, triệu chứng rất có giá trị để chẩn đoán V.A. Có thể sờ thấy hạch nhỏ ở góc hàm, rãnh cảnh, có khi cả ở sau cơ ức đòn chũm, hơi đau, không có hiện tượng viêm quanh hạch.Soi cửa mũi sau gián tiếp bằng gương nhỏ ở trẻ lớn và người lớn sẽ thấy được tổ chức V.A ở vòm mũi họng sưng đỏ, to có mủ nhầy phủ lên trên.Sờ vòm bằng ngón tay không nên thực hiện ở giai đoạn viêm cấp tính.

2. Viêm V.A mạn tính.

Nói có V.A có nghĩa là V.A to hoặc viêm. Viêm V.A mạn tính là tình trạng V.A quá phát hoặc xơ hoá sau viêm nhiễm cấp tính nhiều lần.

2.1. Triệu chứng: Xuất hiện từ 18 tháng đến 6 – 7 tuổi.

1.2.1. Triệu chứng toàn thân: Thường hay sốt vặt, em bé phát triển chậm so với lứa tuổi, kém nhanh nhẹn, ăn uống kém, người gầy, da xanh. Trẻ đãng trí kém tập trung tư tưởng thường do tai hơi nghễnh ngãng và não thiếu oxy do thiếu thở mạn tính, thường học kém.

1.2.2. Triệu chứng cơ năng.-          Ngạt tắc mũi: lúc đầu ngạt ít sau ngạt nhiều tăng dần. Trẻ thường xuyên há mồm để thở, nói giọng mũi kín.-          Mũi thường bị viêm, tiết nhầy và chảy mũi thò lò ra cửa mũi trước.-          Ho khan.-          Ngủ không yên giấc, ngáy to, giật mình.-          Tai nghe kém hay bị viêm.

1.2.3. Triệu chứng thực thể.–          Soi mũi trước: thấy hốc mũi đầy mủ nhầy, niêm mạc mũi phù nề, cuốn mũi dưới phù nề. Hút hết dịch mủ nhầy, làm co niêm mạc mũi có thể nhìn thấy khối sùi bóng, đỏ mấp mé ở cửa mũi sau.-          Soi mũi sau thực hiện ở trẻ lớn và người lớn thấy nóc vòm có khối sùi chiếm vòm mũi họng, che lấp gần hết cửa mũi sau.-          Sờ vòm họng: bằng đầu ngón tay trỏ, chúng ta đánh giá được khối lượng, mật độ của khối sùi.-          Khám họng: thành sau họng có nhiều khối lympho to bằng hạt đậu xanh và mũi nhầy chảy từ vòm xuống họng. –          Khám tai: thấy màng nhĩ sẹo hoặc lõm vào, màu hồng do xung huyết toàn bộ ở màng tai hoặc góc sau trên.-          Em bé có bộ mặt V.A (sùi vòm): da xanh, miệng há, răng vẩu, răng mọc lệch, môi trên bị kéo xếch lên, môi dưới dài thõng, hai mắt mở to, người ngây ngô.

2.2. Chẩn đoán.

–          Căn cứ vào triệu chứng ngạt tắc mũi, thò lò mũi, ho và sốt vặt, ngáy to, ngủ há mồm, nghe kém.

–          Khám lâm sàng: Soi mũi trước và mũi sau thấy có dich mủ nhầy và có thể phát hiện được khối sùi, nhất là khi tổ chức lympho này quá to và đã gây viêm nhiễm thường xuyên ở tai, đường hô hấp, đường tiêu hoá.

3. Biến chứng của viêm V.A

–          Viêm thanh khí phế quản: V.A có thể gây nên những cơn khó thở đột ngột, dữ dội về đêm và kèm theo cơn hen xuất hiện mau hơn và nặng hơn.-          Viêm tai giữa: Vi khuẩn theo vòi Eustache vào hòm nhĩ.-          Viêm đường tiêu hoá: Đau bụng đi ngoài ra nhầy, nước.-          Viêm hạch gây áp xe như hạch Gillete: Đó là áp xe thành sau họng ở hài nhi.-          Thấp khớp cấp.-          Viêm cầu thận cấp.-          Viêm ổ mắt: Viêm màng tiếp hợp, viêm mi mắt, chảy nước mắt.-          Ảnh hưởng đến sự phát triển của cơ thể: Cơ thể bị biến dạng, lồng ngực bị dẹp và hẹp bề ngang, lưng cong hoặc gù, bụng ỏng đít teo. Luôn mệt mỏi lười biếng, buồn ngủ, kém thông minh, nguyên nhân do nghe kém và thở kém nên cơ thể không bình thường.

4. Điều trị viêm V.A

4.1. Điều trị viêm V.A cấp tính.

–          Điều trị như viêm mũi cấp tính thông thường bằng hút mũi, nhỏ mũi để bệnh nhân dễ thở và thuốc sát trùng nhẹ (Êphdrin 1%, Argyron 1%) dùng cho trẻ nhỏ.-          Khí dung mũi: Corticoit + Kháng sinh.-          Kháng sinh toàn thân: dùng cho những trường hợp nặng và có biến chứng.-           Nâng đỡ cơ thể.-          Những trường hợp viêm cấp tính kéo dài, thầy thuốc phải sờ vòm để giải phóng mủ tụ lại trong tổ chức V.A hoặc nạo V.A “nóng” với điều kiện cho kháng sinh liều cao trước và sau khi điều trị, nhưng rất hãn hữu.

4.2. Điều trị viêm V.A mạn tính:

Nạo V.A hiện nay rất phổ biến, nhưng khi nào nạo và không nạo V.A cần phải thực hiện theo đúng chỉ định và chống chỉ định.

Chỉ định:

–          V.A bị nhiều đợt viêm cấp tính, tái đi tái lại (5-6 lần /1 năm).-          V.A gây các biến chứng gần: viêm tai, viêm đường hô hấp, viêm hạch.-          V.A gây biến chứng xa: viêm khớp cấp tính, viêm cầu thận cấp tính…-          V.A quá phát, ảnh hưởng đến đường thở.-          Thường tiến hành nạo V.A cho trẻ từ 6 tháng tuổi trở lên, trừ trường hợp đặc biệt có thể nạo sớm hơn.

Chống chỉ định:

–          Bệnh ưa chảy máu, rối loạn đông máu.-          Khi đang có viêm V.A cấp tính.-          Khi đang có nhiễm virus cấp như: cúm, sởi, ho gà, sốt xuất huyết …-          Bệnh nhân cơ địa dị ứng, hen phế quản, hở hàm ếch.-          Bệnh mạn tính: lao, giang mai, AIDS…-          Thời tiết quá nóng hoặc quá lạnh.Phương pháp nạo V.A-          Nạo V.A là thủ thuật tương đối đơn giản, nhanh, có hiệu quả, được coi là biện pháp vừa điều trị (nạo bỏ hết tổ chức V.A), vừa phòng bệnh (tránh các biến chứng do V.A gây ra).-          Có thể nạo bằng bàn nạo La Force hoặc bằng thìa nạo La Moure.

http://www.benhhoc.com/index.php?do=viewarticle&artid=823&title=viem-va

Gửi phản hồi

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: