Phẫu thuật cắt nóng viêm tấy và áp xe quanh Amygdale

Study of clinical characteristic and evaluating the result

of treatment for peritonsilitis and peritonsillar abscess

by hot tonsillectomy method

                                                                                               

Pham van Vu, Nguyen Tu The, Vo Lam Phuoc, Tong Phuoc Hoi, Tran Phuong Nam

 

Abstract

In total 32 patients suffering from peritonsillitis and peritonsillar abscess in Hue central hospital and Hue medical pharmacy college hospital from 03/2007 to 06/2008, we came to the following conclusion:

1. Clinical characteristic

     – The common age was 21 to 40 (65,5%); male was 78,1% countryman was 68,8%. There was no difference in job.

     – The percent of patient having the history of chronic tonsillitis was 87,5%; the common season were spring and summer 68,8%.

     – The period of time from suffering the disease to hospital was 3-4 days (65,7%)

     – The percent of patients had antibiotic treatment before was 60,5%.

     – The commen symptom were sore throat (100%), anorexia (100%), fever (96%), headache 96%, limited ability to open the mouth 93,8%, voice tone changing 90,6% pain up into the ear 84,4%.

     – Tonsil congestion or pseudomembrance 100%, bulging the anterior tonsillar arches 90,6%; tonsil displace 90,6%; superior deep jugular lymph node swelling 78,1%

     – Needle aspiration with purulent fluid was 62,5%.

     – Preoperative test: white – cell blood count (WBC) ≥10­­­9/l was 87,5%. 1 day postoperation, WBC > 109/l was 37,5%.

     – Bacterial infections: Streptococcus 51,6%, Staphylococcus aureus 6,9%, Hemphilus influenza 3,5%, Klebsiella pneumoniae 3,5%, negative bacterial cultural 34,5%.

     – The percent of peritonsillar abscess was 87,5%, anterior-superior type 93,5%. The preoperative diagnosis peritonsillar abscees was much more accurate if patient hadn”t had antibiotic treatment before.

2. Evaluating result of treatment

     – Putting compress into tonsil fosse for hemostasis was 93,8%

     – The intraoperativ bleeding loss: Less 12,5%, middle 68,7%, severe 18,8%.

     – The postoperative bleeding loss: no hemorrhage 93,8%, early hemorrhage 3,1%, later hemorrhage 3,1%. There was no case of blood transfusion.

     – There were no case of septicemia and spreading out local infection in postoperative period.


NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ

ĐIỀU TRỊ BIẾN CHỨNG VIÊM TẤY, ÁP XE QUANH AMIĐAN,

BẰNG PHẪU THUẬT CẮT NÓNG TẠI HUẾ

Phạm Văn Vũ(*), Nguyễn Tư Thế(*),Võ Lâm Phước(**),

Tống Phước Hội(**), Trần Phương Nam(**)

(*) Bộ môn TMH ĐHYD Huế

(**) Khoa Tai Mũi Họng BV TWHuế

 1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Viêm tấy – áp xe quanh amiđan và áp xe amiđan là những biến chứng thường gặp của viêm amiđan mạn tính [2], [4]. Đây là những bệnh lý cấp cứu của Tai Mũi Họng (TMH), khó điều trị và đe dọa tính mạng người bệnh [7]. Tỷ lệ tái phát cao (14,7% năm) [8].

Ở Mỹ cứ 100.000 người dân có 30 trường hợp mắc bệnh, như vậy khoảng 60.000 trường hợp/năm [7]. Tính trên toàn thế giới tỉ lệ này còn cao hơn tuỳ thuộc vào sự tái phát và sự đáp ứng kháng sinh cũng như mạng lưới y tế cơ sở [3]. Theo Sana S. (2005), thì bệnh lý này chiếm 1,11% trong các cấp cứu tai mũi họng [10].

Trong nước, tại khoa TMH bệnh viện Lâm Đồng từ 1/2000-12/2002 đã tiếp nhận 860 lượt bệnh nhập viện liên quan đến amiđan, trong đó có 44 trường hợp viêm tấy hoặc áp xe quanh amiđan chiếm 5,1%[4]. Tại bệnh viện TMH Thành phố Hồ Chí Minh từ 2001- 2002 có 214 bệnh viêm tấy – áp xe quanh amiđan đến khám và điều trị [2].

Ở Thừa Thiên Huế, với thời tiết khắc nghiệt, viêm amiđan cấp và mạn tính là nguyên nhân hàng đầu của biến chứng này. Tuy vậy, cho đến nay chưa có một nghiên cứu nào về biến chứng viêm tấy, áp xe Amidan.

Về điều trị viêm tấy, áp xe quanh amidan, có nhiều quan điểm khác nhau. Nhiều nước tiên tiến như Đức, Mỹ, Nhật,… áp dụng phẫu thuật cắt amiđan cấp cứu (cắt nóng) [5], [8], [9]… Kết quả cho thấy đây là một phẫu thuật an toàn và mang lại hiệu quả cao trong điều trị và kinh tế [5], [6]. Tuy nhiên ở Việt Nam vẫn chưa có bệnh viện nào đưa phương pháp cắt nóng này vào điều trị. Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị biến chứng viêm tấy, áp xe quanh amiđan bằng phẫu thuật cắt nóng tại Huế” với 2 mục tiêu:

1. Nhận xét đặc điểm lâm sàng bệnh nhân viêm Amidan mạn có biến chứng

2. Đánh giá kết quả điều trị biến chứng amiđan bằng cắt nóng một thì.

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu: Tất các các bệnh nhân viêm tấy, áp xe quanh amidan được chỉ định cắt tại khoa TMH bệnh viện Trung ương Huế và Bệnh viện trường Đại học Y Dược Huế.

2.2. Thời gian nghiên cứu: Từ ngày 1/3/2007 đến ngày 01/6/2008

2.3. Địa điểm nghiên cứu:– Khoa Tai Mũi Họng Bệnh viện Trung ương Huế và Khoa Tai Mũi Họng Bệnh viện Trường Đại Học Y Dược Huế.

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

Qua nghiên cứu 32 bệnh nhân bị viêm tấy – áp xe quanh amiđan và áp xe amiđan tại Bệnh viện Trung ương Huế và Bệnh viện Trường Đại Học Y Dược Huế từ tháng 03/2007 đến 06/2008 chúng tôi có một số nhận xét sau:

3.1. Đặc điểm lâm sàng

3.1.1. Tuổi và giới

Bảng 3.1. Phân bố  tuổi và giới đối tượng nghiên cứu (n = 32)

Độ tuổi

Số bệnh nhân

Tỷ lệ %

TC

%

p

Nam

Nữ

≤15 

1

0

1

3,1

 

 

 

 

 

< 0,05

 

 

 

16-20

2

1

3

9,4

21-30

12

1

13

40,6 

31-40 

7

1

8

25,0

41-50

1

2

3

9,4

51-60

2

1

3

9,4

>60

0

1

1

3,1

Tổng cộng

25 (78,1%)

7 (21,9%)

32

 

100,0

P

P<0,01

 

 

 

– Tất cả mọi lứa tuổi đều có thể mắc bệnh, tuy vậy độ tuổi từ 21 đến 30 tuổi có tỷ lệ cao nhất (40,6%). Các lứa tuổi khác có tỷ lệ thấp hơn, (p <0,05). Thực tế lâm sàng hay gặp ở những người có tiền sử viêm amiđan mạn tính hay tái phát nhưng chưa được phẫu thuật, phù hợp với nhiều tác giả trong và ngoài nước về biến chứng này [3][9].

3.1.2. Nghề nghiệp-Địa dư

Qua số liệu thống kê: Bệnh nhân là nông dân có tỷ lệ cao nhất 14/32 (43,8%). Nếu tính theo ngành nghề như công nhân và nông dân thì có tỷ lệ 68,8%. Như vậy có thể những người lao động nặng biến chứng dễ xẩy ra hơn. Xét về địa dư thì tỷ lệ nông thôn 68,8%) cũng cao hơn thành thị (31,2%), (p < 0,05),[2][4].

3.1.3. Phân bố bệnh nhân theo mùa

Bảng 3.2. Phân bố bệnh nhân theo mùa (n = 32)

Mùa

Số bệnh nhân

Tỷ lệ %

Mùa xuân (tháng 2,3,4)

12

37,5

Mùa hè (tháng 5,6,7)

10

31,3

Mùa thu (tháng 8,9,10)

6

18,7

Mùa đông (tháng 11,12,1)

4

12,5

Tổng

32

100

Nhìn chung thời tiết ở Huế tương đối khắc nghiệt, ngoài bốn mùa xuân, hạ, thu, đông trong năm thì có khi đủ bốn mùa trong một ngày. Nhiều bệnh TMH mạn tính chỉ đi khám khi thời tiết đẹp, khô ráo. Nhưng với loại bệnh cấp cứu này thì không thể trì hoãn,  thống kê cho thấy tỷ lệ cao vào mùa xuân (12/32 trường hợp:37,5%) và mùa hè (10/32 trường hợp:31,3%), cao hơn các mùa khác trong năm, (p < 0,05). Như vậy gần 70% biến chứng xẩy ra 6 tháng đầu năm từ sau Tết âm lịch.

3.1.4. Các yếu tố tiền sử

Bảng 3.3. Các yếu tố tiền sử (n = 32)

Tiền sử

Số bệnh nhân

Tỷ lệ %

Viêm amiđan mạn tính

28

87,5

Bệnh răng miệng

12

37,5

Viêm mũi xoang mạn tính

8

25

Hút thuốc lá

8

25

Hóc xương cá

1

3,1

– Đến 87,5% bệnh nhân có tiền sử viêm amiđan mạn tính, các bệnh răng miệng, viêm mũi xoang… có tỷ lệ thấp hơn (p <0,05).  Điều này cùng thống nhất với nhận định của tác giã   Bonding P. và Milan Profant[6][9].

3.1.5. Điều trị trước lúc vào viện

Bảng 3.4. Điều trị trước vào viện (n = 32)

Hình thức điều trị

Số bệnh nhân

Tỷ lệ %

Không điều trị

10

31,3

Tự điều trị

14

43,8

Điều trị bác sỹ đa khoa

2

6,3

Điều trị bác sỹ chuyên khoa TMH

6

18,8

Tổng cộng

32

100

Nghiên cứu tình hình điều trị trước khi nhập viện chúng tôi thấy:

– Bệnh nhân tự điều trị 43,8%. Không điều trị gì 31,3%. Có điều trị tại bác sỹ đa khoa 6,3% và điều trị đúng bác sỹ chuyên khoa TMH 18,8%. Như vậy tự điều trị có tỷ lệ cao nhất, (p < 0,05).

– Nghiên cứu thời gian bị bệnh đến nhập viện điều trị phổ biến là 3 – 4 ngày có 21/32 trường hợp chiếm 65,7%. (p < 0,01), phù hợp với tình hình tự điều trị hoặc không điều trị gì trước nhập viện 75,1%.

Đáng chú ý số dùng kháng sinh trước lúc vào viện 20/32 trường hợp (62,5%) nhưng biến chứng vẫn xẩy ra chứng tỏ điều trị không đúng quy cách, dẫn đến khó chẩn đoán chính xác tình trạng bệnh đang giai đoạn viêm tấy hay đã bị áp xe.

3.2. Triệu chứng lâm sàng

3.2.1. Triệu chứng cơ năng

Bảng 3.5. Các triệu chứng cơ năng (n = 32)

Triệu chứng

Số bệnh nhân

Tỷ lệ %

Đau họng

32

100

Ăn uống kém

32

100

Sốt > 37,5º C

31

96,9

Đau đầu

31

96,9

Há miệng hạn chế

30

93,8

Thay đổi giọng nói

29

90,6

Đau lan lên tai

27

84,4

Ho

4

12,5

– Nghiên cứu các triệu chứng cơ năng thường gặp trong biến chứng của amiđan là đau họng (100%), ăn uống kém (100%), sốt (96,9%), đau đầu (96,9%), há miệng hạn chế (93,8%), thay đổi giọng nói (90,6%), đau lan lên tai (84,4%). Chỉ có triệu chứng ít gặp hơn là ho (12,5%).

3.2.2. Triệu chứng thực thể

Bảng 3.6. Các triệu chứng thực thể ( n = 32)

Triệu chứng

Số bệnh nhân

Tỷ lệ %

Sưng phồng trụ trước

29

90,6

Amiđan bị đẩy dồn vào trong

29

90,6

Ứ đọng đờm dãi

28

87,5

Sưng hạch góc hàm cùng bên

25

78,1

Lưỡi gà phù nề

20

62,5

Chọc dò chỗ phồng có mủ

20

62,5

Amiđan có giả mạc

17

53,1

Amiđan xung huyết

15

46,9

Sưng phồng trụ sau

2

6,3

– Nghiên cứu các triệu chứng thực thể: Sưng phồng trụ trước 90,6%, amiđan bị đẩy dồn vào trong 90,6%; ứ đọng đờm giải 87,5%; sưng hạch góc hàm 78,1%.

– Các triệu chứng ít gặp hơn: lưỡi gà phù nề 62,5%, chọc dò chỗ phồng có mủ 62,5%, amiđan có giả mạc 53,1%, amiđan xung huyết 46,9%.

3.3. Cận lâm sàng

3.3.1. Vi trùng học: Chúng tôi thực hiện cấy mủ tìm vi khuẩn được 29 cas. 

Bảng 3.7. Kết quả cấy vi khuẩn (n = 29)

Kết quả nuôi cấy

Số bệnh nhân

Tỷ lệ %

Streptococcus β hemolytic

8

27,5

Streptococcus α hemolytic

7

24,1

Klebsiella pneumoniae

1

3,5

Staphylococcus aureus

2

6,9

Hemophilus influenzae

1

3,5

Không mọc

10

34,5

Tổng cộng

29

100

Kết quả nghiên cứu cho thấy: Tác nhân gây bệnh do liên cầu α tan huyết 24,1% và β tan huyết 27,5%. Như vậy biến chứng amiđan do liên cầu chiếm 51,6%.

Đáng chú ý có 34,5% cấy không mọc, có thể lấy bệnh phẩm không đúng quy cách, bị khô do đưa không kịp thời hay đã sử dụng kháng sinh trước điều trị.

3.3.2. Chẩn đoán

Bảng 3.8. Chẩn đoán bệnh trước và sau phẫu thuật (n = 32)

Chẩn đoán 

Trước phẫu thuật

Sau phẫu thuật

p

Viêm tấy

 quanh A

11 

34,4%

9,4%

< 0,05

Áp xe

quanh A

20 

62,5%

28 

87,5%

> 0,05

Áp xe A

3,1%

3,1%

> 0,05

Tổng cộng

32 

100%

32 

100%

 

Chẩn đoán biến chứng viêm tấy quanh amiđan trước và sau phẫu thuật có khác nhau (trước 11 sau chỉ có 3 cas). Sự chẩm đoán nhầm này được nghiên cứu chỉ ra có thể do dùng kháng sinh không đúng quy cách trước vào viện, còn các loại biến chứng khác chưa thấy có sự khác nhau.

3.3.3. Ảnh hưởng của điều trị kháng sinh trước vào viện đến chẩn đoán

Bảng 3.9. Nhóm có điều trị kháng sinh trước vào viện (n = 20)

Chẩn đoán

Trước phẫu thuật

Sau phẫu thuật

p

Viêm tấy quanh A.

8

1

< 0,05

Áp xe quanh A.

11

18

Áp xe A.

1

1

Tổng cộng

20

20

Nghiên cứu cho thấy những bệnh nhân có sử dụng kháng sinh trước khi vào viện thì chẩn đoán viêm tấy quanh amiđan trước và sau phẫu thuật có sự khác nhau (p < 0,05).

Với những bệnh nhân không sử dụng kháng sinh chẩn đoán trước và sau phẫu thuật thống nhất hơn, có nghĩa chính xác hơn. 

3.4. Đánh giá kết quả điều trị

3.4.1. Đánh giá tình trạng chảy máu trong và sau phẫu thuật

Bảng 3.10. Tình trạng chảy máu trong phẫu thuật (n = 32)

Mức độ chảy máu trong phẫu thuật

Số bệnh nhân

Tỷ lệ%

Chảy máu ít

4

12,5

Chảy máu vừa

22

68,7

Chảy máu nhiều

6

18,8

Tổng cộng

32

100

Nhận xét: Chảy máu ít 12,5%; chảy máu vừa 68,7%, chảy máu nhiều 18,8%, nhưng không có trường hợp nào phải truyền máu trong hoặc sau phẫu thuật.

Bảng 3.11. Tình trạng chảy máu sau phẫu thuật (n = 32)

Chảy máu sau phẫu thuật

Số bệnh nhân

Tỷ lệ%

Không chảy máu

30

93,8

Chảy máu sớm

1

3,1

Chảy máu muộn

1

3,1

Tổng cộng

32

100

Theo dõi sau phẫu thuật: Có 1 trường hợp chảy máu sớm nhưng lại là bên amiđan không có biến chứng (3,1%); 1 trường hợp chảy máu muộn ngày thứ 13 sau phẫu thuật (3,1%), (p > 0,05).

Ngoài ra không có các trường hợp nào gặp tai biến trong và sau phẫu thuật khác.

3.4.2. Công thức bạch cầu trước phẫu thuật và sau phẫu thuật 1 ngày

Bảng3.12. Số lượng bạch cầu trước và sau phẫu thuật (n = 32)

Số lượng bạch cầu

Trước phẫu thuật

Sau phẫu thuật

n

%

n

%

<10.109/l

4

12,5

20

62,5

10-15.109/l

15

46,9

11

34,4

>15.109/l

13

40,6

1

3,1

Tổng cộng

32

100

32

100

Trước phẫu thuật bạch cầu ≥ 10 ngàn 87,5% nhưng chỉ sau một ngày được phẫu thuật còn lại 37,5% hay nói cách khác trước phẫu thuật số lượng bạch cầu < 10 ngàn chỉ 12,5% nhưng chỉ sau một ngày phẫu thuật đã đạt 62,5% điều đó chứng tỏ nếu được phẫu thuật ngay tình trạng viêm nhiễm cải thiện đáng kể (p < 0,01).

4. KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu 32 trường hợp bệnh nhân bị viêm tấy – áp xe quanh amiđan và áp xe amiđan tại Bệnh viện Trung ương Huế và Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế từ tháng 03/2007 đến tháng 06/2008 chúng tôi rút ra một số kết luận:

4.1. Đặc điểm lâm sàng

   – Tuổi thường gặp là 21- 40 (65,6%), nam (78,1%) nhiều hơn nữ, nông thôn (68,8%) nhiều hơn thành thị, không có sự khác nhau về nghề nghiệp.

– Có tiền sử viêm amidan mạn (87,5%), biến chứng hay xảy ra vào mùa xuân, mùa hè từ tháng 2-tháng 7( 68,8%).

– Số bệnh nhân dùng kháng sinh trước khi vào viện 60,5%.

– Triệu chứng cơ năng thường gặp: Đau họng (100%), ăn uống kém (100%), sốt (96,9%), đau đầu (96,9%), há miệng hạn chế (93,8%), thay đổi giọng nói (90,6%), đau lan lên tai (84,4%).

– Triệu chứng thực thể: Sưng phồng trụ trước (90,6%), amiđan bị đẩy dồn vào đường giữa (90,6%), sưng hạch góc hàm (78,1%). Có 62,5% trường hợp chọc dò chỗ phồng có mủ. Amiđan có giả mạc (53,1%), xung huyết (46,9%).

– Số bạch cầu ≥10 x 109/l trước phẫu thuật (87,5%), sau phẫu thuật 1 ngày chỉ còn 37,5%.

– Đa số vi khuẩn gây bệnh là liên cầu (51,6%), Staphylococcus aureus (6,9%), Hemophilus influenzae (3,5%), Klebsiella pneumoniae (3,5%), có 34,5% trường hợp cấy không mọc.

Chẩn đoán viêm tấy quanh amiđan trước phẫu thuật có độ chính xác cao hơn khi bệnh nhân chưa dùng kháng sinh trước vào viện.

4.2. Đánh giá kết quả điều trị

– Tất cả phẫu thuật cắt amidan biến chứng được gây mê toàn thể.

– Theo dõi chảy máu trong phẫu thuật: ít (12,5%), vừa (68,7%), nhiều (18,8%) nhưng không có trường hợp nào phải truyền máu trong và sau phẫu thuật.

– Theo dõi chảy máu sau phẫu thuật: không chảy (93,8%), chảy máu sớm (3,1%), chảy máu muộn (3,1%), nhưng đều nhẹ.

– Không có trường hợp nào bị nhiễm trùng máu hay nhiễm trùng tại chỗ lan rộng hậu phẫu không có gì đặc biệt.

 

MỘT SỐ TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

 

1. Trần Công Hòa, Nguyễn Khắc Hòa, Nguyễn Thanh Thủy (2004), “Phẫu thuật cắt Amiđan: Nhận xét 3693 trường hợp tại bệnh viện Tai Mũi Họng trung ương” Tạp chí Tai Mũi Họng (1) tr. 16-20

2. Lê Huỳnh Mai (2003), “Góp phần nghiên cứu viêm tấy-Áp xe quanh amidan tại bệnh viện Tai Mũi Họng TP HCM, tr.145-149

3. Sim Keo Pich (2006)”Các biểu hiện lâm sang và đánh giá kết quả điều trị viêm tấy và áp xe quanh amidan tại bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương từ 11/2005-11/2006. Luận văn thạc sĩ y học Đại học Y Hà Nội

4. Trương Văn Tám (2003) “Viêm tấy, áp xe quanh amidan trong 3 năm tại bệnh viện đa khoa Lâm Đồng”, Nội san Tai Mũi Họng Hội nghị Cần Thơ tr. 60-63

5. Berry S.(2007) “Tonsillectomy a chaud for quinsy: revisited” Eir Arch Otorhynolaryngol,(265),pp.31-33

6. Bonding P. (1973), Tosilectomy “a chaud”, The Journal of Laryngology and Otology, (87)pp.1171-1181

7. Knipping S., Passman M. Schrom T. Berghaus A. (2002) “Abscess tonsillectomy for peritonsilar abscess’ Rev Laryngol Oto Rhinol, 123(1), pp.13-16

8. Kronenberg J., Michael Wolf, Gorge Leveton (1987) “Peritonsillar abscess; Recurrence rate and the indication for tonsillectomy” The American Journal of Otolyngology, Volume 8, Issue 2, pp. 82-84

9. Milan Profant (2003) “management of the peritonsilar abscess: Incision or abscess tonsillectomy” Slovak Otolaryngol,pp.45-47

10. Sana S. (2005), “Emergency Otorhinolaryngolocal cases in medical college, Kontaka-A Statistical analysis”, Indian journal of Otolaryngology and Head and Neck Surgery Vol.57,No.3, pp.219-225

 

 

 

 

Gửi phản hồi

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: