Dị ứng thuốc và các vấn đề liên quan

Sử dụng thuốc kháng Histamin

 

TTO – Khi nói đến thuốc kháng histamin người ta thường chỉ đó là thuốc kháng histamin ở thụ thể H1, và như tên gọi, đây là thuốc có tác dụng đối kháng, làm giảm các triệu chứng rối loạn do histamin gây ra.

Histamin và dị ứng

Histamin là một trong những chất sinh học trung gian giữ vai trò quan trọng trong sốc phản vệ và phản ứng dị ứng. Bình thường histamin có trong cơ thể (phần lớn là nguồn gốc nội sinh: từ histamin bị khử carboxyl tạo thành), tập trung nhiều trong các tế bào: bạch cầu đa nhân ưa kiềm (basophils), tế bào mast (mast cells) và các tế bào này có nhiều ở da, niêm mạc ruột, khí quản, phổi… Trong các tế bào, histamin kết hợp với heparin tạo thành phức hợp histamin-heparin không có hoạt tính. Chỉ khi nào có phản ứng kháng nguyên-kháng thể đưa đến dị ứng, hoặc có tác động của các yếu tố khác như: lạnh, tổn thương tế bào, hóa chất…, tế bào chứa phức hợp histamin-heparin bị kích thích phóng thích ra histamin dạng tự do. Chính histamin dạng tự do gây các triệu chứng bất lợi như:

– Trên hệ hô hấp: sổ mũi, hen suyễn (do co thắt khí quản).

– Trên da: nổi mề đay, phát ban, ngứa, phù Quincke.

– Trên mắt: làm viêm, đỏ kết mạc mắt.

– Trên hệ tiêu hóa: gây sự tiết quá độ HCl và pepsin, gây tiêu chảy do co thắt ruột.

– Trên hệ tim mạch: gây giãn mạch, hạ huyết áp, gây co thắt tim.

Histamin chỉ gây độc khi nó gắn với các tế bào ở tổ chức mô (da, mũi, hệ hô hấp, mắt…) ở những vị trí nhạy cảm gọi là thụ thể histamin (histamin receptor). Có 3 loại thụ thể histamin:

Thụ thể H1: là nơi gắn histamin gây hiệu ứng co thắt cơ trơn khí quản, ruột nhưng làm giãn cơ trơn mạch máu, tăng tính thấm mao mạch gây phù nề, kích thích tận cùng dây thần kinh gây ngứa (phát hiện năm 1939, 2-methylhistamin tác động chuyên biệt). Thuốc kháng thụ thể H1 được dùng trị dị ứng.

Thụ thể H2: là nơi gắn histamin gây tăng tiết dịch vị (phát hiện năm 1972, 4-methylhistamin tác động chuyên biệt). Thuốc kháng thụ thể H2 được dùng trị viêm loét dạ dày – tá tràng (cimetidin, ranitidin, famotidin…).

Thụ thể H3: Hiện diện ở hệ thần kinh trung ương với nhiệm vụ điều hòa tổng hợp và phóng thích histamin (phát hiện 1983, (R)-a -methylhistamin là chất chủ vận).

Có thể ức chế tác động của histamin bằng cách:

– Tiêu hủy histamin bằng histaminase (trích từ thận heo), kết quả rất kém, hiện nay không còn dùng làm thuốc.

– Sửa chữa tác động bằng thuốc cho hiệu ứng trái ngược (chữa hạ huyết áp bằng ADRENALIN làm tăng huyết áp).

– Ngăn chặn sự tạo thành histamin (Tritoqualin, biệt dược: HYPOSTAMINE, ức chế sự khử histidin thành histamin).

– Ổn định màng tế bào để ngăn chặn sự phóng thích histamin dạng tự do ra khỏi tế bào: Natri cromoglycat (biệt dược LOMUDAL, INTAL), Ketotifen (Zaditène) tác động lên tế bào mast ở phổi ức chế sự phóng thích histamin gây co thắt khí quản nên dùng dự phòng hen suyễn.

– Đối kháng tương tranh với histamin tại các thụ thể (thuốc kháng histamin).

Cơ chế tác động của thuốc kháng histamin

Thuốc kháng histamin trị được dị ứng vì đối kháng tương tranh thuận nghịch với histamin tại thụ thể H1 (tranh giành, thậm chí đánh bật histamin ra khỏi thụ thể để chiếm lấy thụ thể), histamin không gắn với thụ thể H1 sẽ không còn gây ra dị ứng.

Phân loại thuốc kháng histamin

Phân loại theo cấu trúc: chia thành nhiều nhóm gọi là nhóm các dẫn chất, gồm có:

– Nhóm dẫn chất phenothiazin: promethazin (Phénergan, Pipolphen), alimemazin (Théralène)…

– Nhóm dẫn chất piperazin: hydroxyzin (Atarax), cyclizin (Marezin), cinnarizin (Stugeron), cetirizin (Zyrtec).

– Nhóm dẫn chất ethanolamin: diphenhydramin (Nautamine, Benadryl), dimenhydrinat (Dramamin), clemastin (Tavist)

– Nhóm dẫn chất alkylamin: clorpheniramin (Chlor-trimeton, Pheniram), dexclorpheniramin (Polaramine, Polaramine repetabs), pheniramin (Trimeton).

– Nhóm dẫn chất ethylendiamin: tripelamin (PBZ, Ahistamin), pyrilamin (Nisaval), antazolin (Antistin).

– Nhóm dẫn chất piperidin: cyproheptadin (Periactin, Peritol), terfenadin (Teldan).

Trong thực tiễn điều trị, khi chọn thuốc thuộc một nhóm không đạt yêu cầu người ta chọn thuốc thuộc nhóm khác với hy vọng sự khác nhau về cấu trúc hóa học sẽ đưa đến hiệu quả trong điều trị hoặc không gây tác dụng phụ.

Phân loại theo thế hệ: theo thời gian thuốc ra đời và lợi điểm, thuốc được chia làm 2 thế hệ.

– Thế hệ thứ 1: còn gọi thuốc kháng histamin cổ điển, bao gồm thuốc được ra đời đầu tiên từ năm 1939 đến thuốc của những năm 1970. Thuốc cổ điển có 2 bất lợi: gây buồn ngủ và thời gian tác dụng ngắn, phải dùng nhiều lần trong ngày (các nhà dược học phải cải tiến dạng bào chế từ Polaramine (dạng viên nén thường chứa 2mg hoạt chất) phải uống 4 lần trong ngày cải tiến thành Polaramine repetabs (dạng viên 2 lớp chứa 6mg hoạt chất) uống 1-2 lần trong ngày.

– Thế hệ thứ 2: gồm các thuốc xuất hiện từ năm 1980 như: cetirizin, astemizol, loratidin, mequitazin, terfenadin, fexofenadin… Thuốc thế hệ mới này khắc phục được 2 bất lợi của thuốc thế hệ 1. Nhờ có cấu trúc hóa học không thấm vào mỡ (lipophobic), thuốc thế hệ mới không xâm nhập hệ thần kinh trung ương nên không gây buồn ngủ cũng như không gây tác dụng phụ liệt đối giao cảm (hay tác dụng chống tiết cholin như: khô miệng, táo bón, rối loạn điều tiết mắt…). Nhờ thời gian bán hủy dài, một số thuốc mới như: astemizol, loratidin, cetirizin chỉ cần uống một lần trong ngày.

Hạn chế của thuốc kháng histamin

Phạm vi điều trị của thuốc kháng histamin có giới hạn do hai hạn chế sau:

– Do tác dụng chỉ là đối kháng tương tranh thuận nghịch với histamin tại thụ thể nên trong trường hợp rối loạn có sự phóng thích ồ ạt quá nhiều histamin như bị sốc phản vệ, một mình thuốc kháng histamin không thể giải quyết được mà phải kết hợp thêm thuốc khác.

– Trong dị ứng, không chỉ có histamin mà còn có một số chất sinh học trung gian khác tham gia gây phản ứng. Như trong viêm mũi dị ứng đưa đến: ngứa mũi, nhảy mũi, sổ mũi nước, nghẹt mũi, ngoài histamin còn có vai trò của các prostaglandin, các leukotrien, các kinin. Vì vậy, một mình thuốc kháng histamin có khi không tác dụng hoặc chỉ làm giảm nhẹ triệu chứng dị ứng.

Các chỉ định của thuốc kháng histamin

– Trị hoặc phòng một số biểu hiện của dị ứng cấp tính trong: sổ mũi mùa, côn trùng chích, viêm mũi dị ứng, viêm da dị ứng, nổi mề đay, viêm kết mạc dị ứng, sẩn ngứa, phù Quincke.

– Phụ trợ trong điều trị sốc phản vệ (phải kết hợp nhiều thuốc như: adrenalin + corticoid + kháng histamin + thở oxy).

– Ngoài trị dị ứng, một số thuốc kháng histamin còn được dùng: chống nôn say tàu xe (dimephydrinat, diphenhydramin, cinarizin…), trị nhức nửa đầu (cinnarizin, flunarizin, dimethothiazin), trị hội chứng Ménière (hydroxyzin), kích thích sự thèm ăn (cyproheptadin, nhiều nước bỏ chỉ định này) dùng như thuốc an thần gây ngủ (promethazin, doxylamin).

Những điều lưu ý trong sử dụng thuốc kháng histamin

– Thuốc kháng histamin chỉ trị triệu chứng dị ứng (ho, sổ mũi nước, nổi mề đay, ngứa…). Cần tìm ra và loại trừ kháng nguyên (thức ăn, thuốc, môi trường sống) thì mới trị tận gốc được bệnh.

– Nhiều biệt dược trị cảm – sổ mũi (Contac, Decolgen fort, Cetamol F, Actifed, Comtrex, Denoral…) hoặc trị ho (Toplexil, Atussin, Rhinathiol – Promethazine), trong thành phần có chứa thuốc kháng histamin cổ điển gây buồn ngủ (như clorpheniramin). Vì vậy, cần lưu ý người sử dụng về tác dụng gây buồn ngủ, tránh dùng thuốc nếu phải làm việc, đòi hỏi sự tập trung, tỉnh táo và tránh uống rượu khi đang dùng thuốc. Hơn nữa, trong thuốc loại này còn chứa thêm thuốc làm co mạch, chống sung huyết ở niêm mạc mũi (như phenylpropanolamin, ephedrin, pseudoephedrin) cần tránh dùng ở người bị cao huyết áp, trẻ còn quá nhỏ tuổi.

Tác dụng phụ gây buồn ngủ của thuốc kháng histamin cổ điển có khi được dùng như chỉ định chính thức trị mất ngủ. Nên lưu ý chỉ dùng thuốc trong trường hợp này trong thời gian ngắn và lưu ý các bà mẹ không được dùng thuốc cho trẻ ngủ kéo dài. Trẻ dùng thuốc gây buồn ngủ kéo dài sẽ mỏi mệt, không phát triển tốt trí tuệ.

Ở ta hiện nay vẫn còn dùng cyproheptadin (Periactin, Peritol) trị chứng chán ăn (nhiều nước không dùng chỉ định này).

Nên lưu ý các đối tượng không được dùng cyproheptadin:

+ Phụ nữ có thai (thuốc ảnh hưởng đến thai), phụ nữ cho con bú (thuốc ức chế sự tiết sữa), trẻ con dưới 2 tuổi. Người cao tuổi cũng nên tránh dùng cyproheptadin.

+ Có tình trạng không dung nạp thuốc kháng histamin: trẻ con bị kích thích vật vã, người lớn bị dị ứng bởi chính thuốc kháng histamin.

Vào năm 1990, một báo cáo khoa học đăng trong tạp chí The American Medical Association tường trình một trường hợp tử vong của một phụ nữ khi người này dùng cùng lúc thuốc terfenadin và ketoconazol. Sau đó, nhiều báo cáo khác cho thấy dùng terfenadin chung với các kháng sinh họ macrolid (như erythromycin, josamycin, clarithromycin) hoặc thuốc kháng nấm Ketoconazol, itraconazol sẽ bị rối loạn nhịp tim. Vì vậy, hiện nay FDA Mỹ đã cấm dùng terfenadin và thay thế bằng fexofenadin (Telfast). Fexofenadin là chất chuyển hóa của terfenadin khi dùng không bị gan chuyển hóa nên tránh được tương tác thuốc ở giai đoạn chuyển hóa với các thuốc khác, không đưa đến rối loạn nhịp tim vừa kể. Ở ta không cấm dùng terfenadin nhưng bắt buộc chỉ dùng khi có toa bác sĩ (các thuốc kháng histamin khác được bán không cần toa). Nên lưu ý astemizol có thể gây tương tác thuốc giống terfenadin, hiện nay ở ta đã cấm sử dụng.

Theo NGUYỄN HỮU ĐỨC

Chích kháng sinh phải rất thận trọng!

Hiện nay chưa thể kết luận nguyên nhân tử vong do tiêm thuốc Ceftriaxon vừa xảy ra đối với hai người ở tỉnh Tây Ninh, mà phải chờ kết luận của các cơ quan y tế. Chỉ có thể ngờ rằng nguyên nhân là do dị ứng thuốc hoặc do ngộ độc thuốc.

Trong đó dễ ngờ nhất là dị ứng thuốc vì điều đó có thể xảy ra khi tiêm thuốc kháng sinh. Trước hết là dị ứng thuốc mà trầm trọng nhất là sốc phản vệ (còn gọi là sốc thuốc). Khi sử dụng đưa thuốc vào trong cơ thể, thuốc được xem là chất lạ. Vì vậy, ngoài tác dụng chính là điều trị phòng bệnh do thuốc đem lại, cơ thể ta có thể chống lại chất lạ đó bằng những phản ứng gây rối loạn. Đặc biệt, có phản ứng gọi là dị ứng thuốc.

Dị ứng thuốc

Nên lưu ý một số đặc điểm của dị ứng thuốc như sau:

Còn đối với ngộ độc thuốc là do dùng thuốc quá liều và có sơ suất trong cách sử dụng thuốc trong điều trị như pha chế thuốc tiêm không đúng cách, pha chế nhầm lẫn…

– Dị ứng thuốc không phụ thuộc vào liều lượng nên sẽ xảy ra dị ứng dù thuốc dùng đúng liều hoặc thậm chí dùng thuốc rất ít, tức dưới liều chỉ định.

– Phản ứng dị ứng chỉ xảy ra ở một số ít bệnh nhân gọi là người dễ dị ứng, hoặc người có cơ địa dị ứng. Cho nên có thuốc nhiều người dùng chẳng việc gì nhưng dùng ở người khác thì bị dị ứng, thậm chí dị ứng rất nặng.

– Phản ứng dị ứng có thể xảy ra không chỉ do dược chất mà có thể do tá dược hoặc do tạp chất khi pha thuốc tiêm làm lẫn vào thuốc.

Đối với thuốc, bất cứ dược chất nào cũng đều có khả năng gây dị ứng thuốc. Đứng đầu và dễ xảy ra là các kháng sinh. Trường hợp mới xảy ra cách đây không lâu là bị sốc phản vệ do Cefotaxim và bây giờ có thể là Ceftriaxon như đã kể ở trên. Cefotaxim và ceftriaxon là hai kháng sinh thuộc nhóm cephalosporin dùng dạng thuốc tiêm. Đây là hai thuốc rất cần thiết và rất quí dùng trị bệnh nhiễm khuẩn nặng trong bệnh viện, nhưng nếu người bệnh quá mẫn cảm (tức cơ địa quá dễ dị ứng) thì sẽ bị sốc phản vệ. Biết là kháng sinh có thể gây dị ứng nhưng vì lợi ích của việc điều trị nhiễm khuẩn bắt buộc vẫn phải dùng.

Mấy điều lưu ý

Đối với người dân bình thường, để phòng tránh tình trạng dị ứng thuốc, lưu ý các điều sau:

* Xem việc dùng thuốc là hệ trọng, chỉ dùng thuốc khi thật sự cần thiết và có sự hiểu biết tối thiểu về cách dùng, liều lượng, tính năng, tác dụng phụ của thuốc. Nếu có nghi ngờ về bệnh của mình thì cách tốt nhất đến bác sĩ khám để được chỉ định dùng đúng thuốc. Không nên tự ý dùng kháng sinh, nhất là không tự ý dùng dạng thuốc tiêm.

* Khi đang dùng thuốc nói chung, đặc biệt dùng kháng sinh, nếu xảy ra các phản ứng bất thường như ngứa, nổi mề đay, khó thở, hoặc cảm thấy rất khó chịu thì ngưng ngay thuốc đó, đến tái khám ở bác sĩ đã chỉ định thuốc để bác sĩ cho hướng xử trí thích hợp.

* Khi đã bị dị ứng loại thuốc nào tuyệt đối không dùng loại thuốc đó. Khi đi khám ở bác sĩ hoặc đến nhà thuốc mua thuốc phải thông báo cho bác sĩ hoặc dược sĩ, biết những loại thuốc đã bị dị ứng trước đây và những loại thuốc hiện đang dùng. Được thông báo, bác sĩ, dược sĩ sẽ tránh cho dùng những thuốc gây nguy hại.

Riêng đối với các nhà chuyên môn, Ceftriaxon là kháng sinh có thể gây tác dụng phụ và đặc biệt có thể gây sốc phản vệ nên bắt buộc thử phản ứng trước khi dùng. Nếu thử có xảy ra phản ứng sẽ chuyển dùng thuốc khác.

PGS.TS NGUYỄN HỮU ĐỨC
(Đại học Y dược TP.HCM)

Chuyên mục > Home / CK_Tự miễn, Hỏi đáp về thuốc / Dị ứng kháng sinh

Dị ứng kháng sinh

27, 12, 2007 | 327 lần xem.

Tôi bị dị ứng kháng sinh đã ba ngày, đã được tiêm hai mũi chống dị ứng nhưng hiện tại người vẫn đang rất mệt mỏi, ngứa toàn thân, nhất là chân và tay ảnh hưởng rất nhiều đến sinh hoạt và công việc.

Vì vậy tôi muốn hỏi cách giải độc sau dị ứng để phục hồi sức khỏe, rất mong tòa soạn quan tâm giúp đỡ. Chân thành cảm ơn! (Hoang Xuan Vinh)

Trả lời của Phòng mạch Online:

– Có nhiều nguyên nhân dẫn đến dị ứng thuốc. Có thể thuốc quá hạn đã thay đổi hoạt chất thành hóa chất khác. Bà con mình vô tư mua “tự làm bác sĩ” bởi đi khám thì ngại, hiệu thuốc bán “vô tư” doanh thu càng cao càng tốt.

Theo thống kê thì tỉ lệ dị ứng thuốc do sử dụng bừa bãi ở nước ta khoảng 7-8% dân số. Quả là con số không nhỏ! Đáng sợ nhất là dị ứng thuốc kháng sinh. Nặng nhất là Penicillin có thể gây khó thở, tím tái, vã mồ hôi, huyết áp hạ, nếu không cấp cứu kịp thời có thể tử vong rất nhanh.

Sau Penicillin là Ampicillin, Streptomycin, Spectinomycin. Kế đến là thuốc chống viêm, hạ sốt, vitamin, nói chung “món” nào cũng có thể gây dị ứng nếu không cẩn thận “đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng”.

Nhiều người tưởng thuốc đông y không gây dị ứng nhưng chúng cũng là một trong những nguyên nhân bởi cách bào chế, bởi nhiễm nấm, bởi tạp chất…”lu xù bù” trong đó. Dị ứng thuốc có thể cấp tốc như Penicillin, nhưng có thuốc phải sau vài giờ, thậm chí vài ngày, có khi cả tuần.

Điều tai hại là khi bị nổi mẩn, ngứa có người tưởng là mình mắc thêm bệnh khác, lại ra tiệm mua thuốc về dùng, tình trạng sẽ bi thảm hơn. Có 23 loại triệu chứng lâm sàng, trong đó ban đỏ có ngứa, sốt, choáng váng, khó chịu và mày đay là những triệu chứng hay gặp hơn cả.

Da và niêm mạc là hệ cơ quan thể hiện triệu chứng dị ứng chủ yếu (98%). Dị ứng do đường uống nhiều nhất (hơn 70%), hay gây ra các hội chứng loại hình dị ứng muộn, tiếp đó là đường tiêm chích (gần 20%).

Bạn đã dùng thuốc chống dị ứng rồi, bây giờ tốt nhất là ngưng dùng tất cả các loại thuốc. Bạn nên ăn cháo đậu xanh, chúng có khả năng giải độc. Bạn mua chừng 200g đậu đen về rửa sạch, để ráo rồi rang nhỏ lửa cho đến khi nó cháy bốc khói. Tiếp đến bạn dùng đậu đen rang cháy đó cho vào nồi, đổ chừng 1,5 lít nước, nấu sôi chừng 5 phút.

Bạn uống nước đậu đen không đường liên tục. Bản thân nó giống như than hoạt sẽ hấp thụ hết chất gây dị ứng còn tồn đọng trong cơ thể bạn. Cùng lúc bạn có thể ra trạm y tế nhờ họ truyền một chai Lactate Ringer để thải độc theo đường nước tiểu. Bạn nhớ là không nên dùng thêm bất cứ loại thuốc gì kể cả vitamin C hay thuốc chống dị ứng.

(Theo Sống Khỏe ’s Blog sưu tầm)

Hội chứng Steven-Johnson và hội chứng Lyell

Dị Ứng – Hội Chứng Stevens Johnson Syndrome – Medical References
Bác sĩ Nguyễn Tài Mai

Kỳ trước có viết hội chứng (dị ứng) Stevens Johnson. Hồi trong training tôi có thấy một bnhân suýt nữa chết vì hội chứng này (vì phản ứng với thuốc)
Một trong những thuốc hay dùng để chữa “gout” (thuốc Allopurinol) có thể gây dị ứng rất mạnh. Trong oncology thường dùng thuốc này để ngừa “acute tumor lysis syndrome”.
Hội chứng tumor lysis syndrome là một oncology/hematology emergency vì tumor bị các chất chemotherapy “giết” nhanh quá khiến cơ thể không kịp thải uric acid ra, tạo nên suy thận cấp tính chẳng hạn. Bên giường bệnh, hội chứng này thường hiện ra: hyperuricemia, hyperkalemia, acute renal failure. Thế cho nên thường cho Allopurinol trước khi cho chemotherapy trong các trường hợp này – và bảo bnhân uống nhiều nước (ít nhất 100 ml/giờ : 2400 ml/24 giờ) (Ở Mỹ, có loại chai nước ngọt 2000 ml/mỗi chai: bảo họ uống ít nhất một. chai này một. ngày 24 giờ – dĩ nhiên là phải cẩn thận trong congestive heart failure).

Tumor lysis syndrome thường thấy khi chữa high-grade Non-Hodgkin’s lymphoma (chẳng hạn Burkitt’s) và leukemiạ. Bài sau đây tóm lược sự suy nghĩ hiện tại – năm 2008, 2009 – v/v chữa trị (đây chỉ là bài review, không có gì mới):

Coiffier B, Altman A, Pui CH, Younes A, Cairo MS. Guidelines for the management of pediatric and adult tumor lysis syndrome: an evidence-based review. J Clin Oncol. Jun 1 2008; 26(16): 2767-78.

Note: Phản ứng với allopurinol có khi nhẹ (chỉ ngứa) nhưng có khi nặng hơn (nổi mẩn – rash – và ngứa toàn diện cơ thể, ngay cả da bắt đầu “lột” ra ).
NTM

Về việc tìm kiếm references trong internet, có lẽ www.pubmed.com khá nhất. Đây là service cuả US National Medical Library và Nat’l Institute of Health.
PubMed chính là “hậu thân” cuả Index Medicus mà ta dùng cho đến 1985, 1990 gì đó; rồi từ đó bỏ search bằng tay và mắt, sang search trong Internet.
Hồi đó việc lưu trữ những bài vở trong y khoa rất khổ cực, phải search rồi photocopy etc. Ai cũng phải có vài thùng hồ sơ có hàng nghìn files, và chỉ filing thôi cũng hết đời. Việc filing này đòi hỏi môt. kỷ luật: đọc rất rộng, rất nhiều, nhưng phải nhớ đọc ở đâu, và ĐỂ ở đâu (để sau này đi giảng bài, moi ra, dẫn chứng)…
Gần đây thấy website này cũng tiện: www.searchmedica.com

Disclaimer: bài này qúy vị có thể phổ biến tự do, không cần xin phép tác giả (Nguyễn Tài Mai), chỉ cần đề: bài do BS Nguyễn Tài Mai, đăng trên diễn đàn y sĩ ngày 25 tháng 2 năm 2009 (tôi không giữ lại bản đã viết, cho nên nếu có câu hỏi xin kèm bài này để dẫn chứng).
Việc chữa bệnh từng bệnh nhân riêng biệt dĩ nhiên hoàn toàn tùy thuộc y sĩ điều trị, y sĩ máu, y sĩ ung thư của trường hợp đó.

Bs Nguyễn Tài Mai, Chuyên Khoa Bệnh Máu và Ung Thư

Xin ghi rõ nguồn: Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com


Gửi phản hồi

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: