Ung thư trong TMH

Ung thư vòm họng

Nguồn: http://www.ungthu.net.vn

Trên 30 năm trước, ung thư vòm còn được gọi là ung thư Quảng Đông (Cantonese cancer) vì tỉnh này (ở Trung Quốc) có tỷ lệ bệnh cao nhất thế giới. Tại các quốc gia Âu Mỹ và Phi thì tỷ lệ ở những người da trắng và da đen thấp hơn nhiều, ở những quốc gia đó phần đông trong số người bị ung thư vòm họng cũng thường là những người Trung Hoa di cư hoặc con cháu của họ, đặc biệt con cháu những người di cư từ tỉnh Quảng Đông từ một vài thế hệ trước đến nay vẫn chiếm tỷ lệ cao hơn những người bản địa.

Theo Hiệp hội chống ung thư thế giới (UICC), loại ung thư này chiếm 1% của tất cả các loại ung thư. Tuổi 40 – 50 là độ tuổi bị nhiều nhất, rất hiếm gặp dưới 20 tuổi, tuy nhiên cũng có báo cáo ghi nhận trường hợp dưới 5 tuổi mắc bệnh, nam mắc bệnh nhiều hơn nữ theo tỷ lệ 2,5 so với 1 (2,5 : 1). Bệnh phân bổ ở Trung Quốc, đặc biệt các tỉnh phía nam như Quảng Đông, Phước Kiến, Hải Nam và đặc khu Hồng Kông là cao nhất thế giới, kế đến là Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, còn Âu – Mỹ – Phi như đã nói ở trên thì hiếm hơn nhiều.

Nguyên nhân

Cho đến ngày nay nguyên nhân của ung thư vòm vẫn không biết một cách chính xác, mặc dù có nhiều giả thuyết về nguyên nhân như có sự hiện diện của vi-rút Epstein-Barr (EBV) ở bệnh nhân ung thư vòm, hút thuốc lá hoặc thường tiếp xúc với khói, hóa chất, nhang… Đặc biệt chế độ ăn uống có tính đặc thù của cư dân duyên hải Trung Hoa và giáp Trung Hoa cũng được đề cập như món cá tẩm muối kiểu Quảng Đông (cá khô), sốt cá lên men, tôm muối nhồi bột, nước tương, dầu hào (vì có chất 3-MPCD và 1,3 DCP được cho là chất sinh ung thư), sữa đậu đông lên men, hột vịt muối, nho để trữ lâu (nho khô), rau quả đóng hộp để lâu… Hiện nay, giới khoa học đang tập trung nghiên cứu về sự tác động qua lại giữa những yếu tố cơ địa (host factors), sự nhiễm vi-rút EBV và chế độ ăn uống truyền thống địa phương như đã nêu.

Triệu chứng

– Hạch cổ nổi một bên là triệu chứng rất thường gặp, hạch cứng kích thước có thể từ 2-3 cm đến 7-8 cm, xung quanh không có dấu viêm nhiễm như sưng, nóng đỏ và đau, ban đầu di động, sau đó thì dính vào tổ chức xung quanh, vị trí thường là góc hàm, bên cổ.

– Nghẹt mũi là thường gặp lúc đầu một bên sau có thể nghẹt cả hai bên hoặc ban đầu là chảy máu mũi, chảy nhiều lần mỗi lần một ít, hoặc chảy chất nhầy từ mũi do viêm xoang thứ phát sau ung thư.

– Ù tai hoặc nghe kém, đau trong tai và vùng thái dương.

– Nhức đầu, đau quanh mắt, sau ổ mắt, hoặc tê vùng má, tuy nhiên có thể bị lé mắt do ung thư xâm lấn gây liệt dây thần kinh.

Chẩn đoán và điều trị

Soi mũi và lấy một “miếng thịt” trong mũi để thử (còn gọi là sinh thiết) là điều bắt buộc phải làm và cũng là duy nhất để có chẩn đoán chính xác, sinh thiết qua mũi bằng nội soi để xác định bệnh là rất chính xác vì qua màn hình bác sĩ thấy rõ nơi cần đến và bấm chỗ nào đúng nhất. Cũng cần lưu ý rằng kết quả sinh thiết âm tính không có nghĩa là không có ung thư, cần làm sinh thiết lại nếu thấy rằng kết quả này không phù hợp với khám trên bệnh nhân. Bệnh nhân ung thư vòm thường được khám và phát hiện bởi bác sĩ chuyên khoa tai mũi họng vì các triệu chứng ù tai, nghẹt mũi, chảy nước mũi… nhưng được điều trị xạ trị bởi bác sĩ chuyên khoa ung thư, việc tái khám để theo dõi kết quả điều trị được phối hợp bởi liên chuyên khoa này, một số trường hợp còn phải kết hợp xạ trị và phẫu thuật lấy hạch cổ tái phát.

Kết quả tùy thuộc vào việc bệnh nhân đi khám sớm hay muộn, càng phát hiện bệnh sớm tỷ lệ khỏi càng cao, thường tỷ lệ sống sau 5 năm kể từ khi được phát hiện là khoảng 40 – 60% (tại Việt Nam). Ở Singapore và Hồng Kông thì tỷ lệ này là trên 80%.

BS Nguyễn Trọng Minh
(BV Chợ Rẫy, TP.HCM)

Ung thư thanh quản

Khối ung thư thanh quản.

Ung thư thanh quản chiếm khoảng 20% các loại ung thư nói chung. Trong các loại ung thư vùng đầu mặt cổ, nó được xếp thứ 2 sau ung thư vòm. Lứa tuổi thường gặp là 40- 60, chủ yếu là nam giới.

Thanh quản tham gia vào chức năng hô hấp (dẫn không khí ra vào phổi), bảo vệ đường hô hấp (tạo phản xạ ho, sặc khi có vật lạ rơi vào thanh quản, nhằm tống vật lạ ra ngoài) và phát âm. Sự phát âm được thực hiện khi luồng không khí đi qua khe thanh môn, tạo ra sự rung sóng niêm mạc, áp lực không khí ở hạ thanh môn tạo ra cường độ cho tiếng nói, dây thần kinh điều khiển các cơ làm thay đổi tần số, âm sắc tiếng nói. Tiếng nói hoàn chỉnh khi đi qua các bộ phận như họng, mũi xoang, miệng, lưỡi, môi… với những âm sắc đặc trưng cho từng cá nhân. Khi dây thanh bị thương tổn, sẽ gây khàn tiếng hoặc có khi mất hẳn tiếng.

Nguyên nhân gây ung thư thanh quản chưa được xác định rõ, yếu tố nguy cơ là hút thuốc lá nhiều (98% người bị ung thư thanh quản có hút thuốc lá), uống nhiều rượu, viêm mạn tính hoặc những bệnh tích tiền ung thư như bạch sản, sừng hóa, u nhú thanh quản.

Khàn tiếng là triệu chứng xuất hiện đầu tiên và ngày càng tăng, dùng các thuốc điều trị viêm thanh quản đều không có tác dụng. Khối u ngày càng phát triển, người bệnh mau mệt, câu nói ngắn hơn. Khi khối u to, dây thanh bị cố định, thanh môn bị hẹp thì tiếng nói trở nên khàn đặc, mất hết âm sắc, nghe khó hiểu.

Khối u lớn dần làm khẩu kính của thanh môn ngày càng hẹp, gây khó thở. Lúc đầu, khó thở chỉ xuất hiện khi gắng sức (lên cầu thang, bê vật nặng…), về sau ngày càng tăng và trở nên liên tục; thỉnh thoảng có những cơn co thắt làm bệnh nhân nghẹt thở tưởng như mình sắp chết. Nếu khi nằm nghỉ ngơi mà vẫn khó thở, bệnh nhân phải được mở khí quản.

Nuốt đau chỉ xuất hiện khi khối u đã lan ra vùng hạ họng, lúc này bệnh nhân không ăn cơm được, chỉ ăn cháo hoặc uống sữa, thậm chí phải đặt ống dạ dày để bơm thức ăn.

Có thể phát hiện bệnh bằng cách soi thanh quản gián tiếp bằng gương, sẽ thấy u sùi nhỏ như bông cải súp lơ, to bằng hạt đậu ở một bên dây thanh, hoặc có vết loét nằm trên một nền thâm nhiễm ở 2/3 trước của dây thanh. Nếu phát hiện trễ, khối u phát triển to sẽ lan sang bên dây thanh đối diện, lan xuống hạ thanh môn hoặc vùng trên thanh môn, lan vào hạ họng, miệng – thực quản. Các biện pháp chẩn đoán là soi thanh quản trực tiếp bằng ống soi, qua đó lấy một mẫu bệnh phẩm để làm xét nghiệm giải phẫu bệnh lý, giúp chẩn đoán xác định ung thư thanh quản.

Nếu không được điều trị, ung thư thanh quản sẽ gây tử vong trong vòng 1-3 năm vì bị suy kiệt hay nghẹt thở, chảy máu (do ung thư di căn vào phổi, gan, xương). Nhưng nếu được phát hiện sớm và điều trị kịp thời, bệnh nhân có thể khỏi hẳn hoặc sống thêm khá lâu so với những loại ung thư khác.

Có nhiều phương pháp điều trị ung thư thanh quản, tùy thuộc vào vị trí, mức độ ăn lan của ung thư và thể trạng người bệnh. Đến nay, phẫu thuật vẫn là phương pháp thường được lựa chọn, kế đến là xạ trị và hóa trị hoặc phối hợp giữa các phương pháp trên. Tuy nhiên trong tương lai, với sự tiến bộ về y học, các phương pháp xạ trị, hóa trị sẽ ngày càng hoàn thiện hơn, hoặc có những phương pháp mới thay thế dần phẫu trị và bảo tồn được chức năng của thanh quản.

Vấn đề nói và thở sau khi cắt thanh quản

Nếu bệnh nhân được phát hiện và điều trị sớm khi ung thư còn khu trú ở một thanh đai thì chỉ cần phẫu thuật cắt bỏ một phần thanh quản có liên quan với khối u. Bệnh nhân sau mổ có thể nói và thở qua đường tự nhiên, mặc dù tiếng nói không trong trẻo như trước.

Nếu phát hiện muộn, khi ung thư đã lan rộng thì buộc phải cắt bỏ toàn bộ thanh quản. Lúc này, bệnh nhân phải thở qua lỗ mở khí quản ra da ở cổ và không nói được. Tuy nhiên, có nhiều cách để giúp người bệnh có thể nói như: Tạo một khe thanh môn mới sau khi cắt bỏ thanh quản; đặt ống phát âm xuyên qua thành khí thực quản; dùng máy điện tử; luyện nói bằng giọng thực quản… Nhưng dù cách nào đi nữa, người bệnh cũng phải tập luyện mới nói trở lại được.

Cách phòng bệnh tốt nhất là loại bỏ các yếu tố nguy cơ gây ung thư như thuốc lá và rượu. Các nghiên cứu cho thấy số người hút thuốc lá bị ung thư thanh quản chiếm 12%, so với người không hút thuốc lá là 2%.

Nếu khàn tiếng kéo dài quá 2 tuần xảy ra ở người trên 40 tuổi, đã dùng những thuốc kháng viêm thông thường nhưng không khỏi thì phải đi khám tai mũi họng. Đối với những bệnh nhân bị u nhú thanh quản (papillome), bạch sản thanh quản, phải khám bệnh định kỳ để phát hiện sớm những trường hợp bệnh có thể chuyển thành ung thư.

(Theo Sức Khỏe & Đời Sống)

Ung thư Amidan

Ung thư amiđan là một dạng ung thư thuộc đầu và cổ.
Ung thư amiđan phát triển trong một phần của họng chỉ ngày sau miệng, được gọi là khẩu – hầu.

Nó bao gồm:

– Mặt sau của gốc lưỡi
– Phần mềm phía sau gốc miệng (phần vòm miệng mềm)
– Amiđan và 2 mào của mô phái trước và sau amiđan
– Thành sau của họng

Nguy cơ rủi ro chính gia tăng ung thư dạng này là do hút thuốc và thường xuyên  uống quá nhiều rượu. Nếu bạn hút thuốc và uống rượu cùng nhau, nguy cơ mắc bệnh càng tăng cao.

Bạn có thể được đề nghị 1 trong những phương pháp điều trị ung thư dưới đây

· Phẫu thuật

· Xạ trị

· Hóa trị

Bạn có thể phẫu thuật hoặc xạ trị để điều trị sớm ung thư amiđan. “Sớm” nghĩa là khi bạn có một khối u nhỏ nằm trong amiđan. Nếu khối u to hơn và chèn ép toàn bộ amiđan thì bạn có thể sẽ được yêu cầu phẫu thuật kèm theo xạ trị. Ung thư giai đoạn cuối di căn ra các cơ quan bên ngoài amiđan có thể được làm teo lại trước khi có thể phẫu thuật loại bỏ. Bạn có thể được điều trị bằng hoá trị hoặc xạ trị hoặc kết hợp cả 2 phương pháp để làm teo khối u. Phương pháp này được gọi là “Giảm giai đoạn bệnh”, Nếu khối u teo lại, sau đó bạn có thể phẫu thuật để loại bỏ nó hoàn toàn.

Ung thư giai đoạn cuối gây ra các triệu chứng như là đau đớn, chảy máu và khó nuốt. Bạn có thế điều trị bằng xạ trị hoặc hoá trị hoặc kết hợp cả hai để giúp kiểm soát các triệu chứng này.

Có các phương pháp điều trị thử nghiệm khác đang được nghiên cứu, ví dụ phương pháp quang động trị liệu (PDT). Đối với phương pháp này, bạn phải uống một loại thuốc có tác dụng tấn công tập trung vào các tế bào ung thư. Loại thuốc này sẽ vô hại cho đến khi có tia sáng toả ra trong các tế bào ung thư. Sau đó nó được “bật lên” và tiêu diệt các tế bào ung thư.

Như bạn có thể thấy, điều trị phụ thuộc vào các tế bào ung thư phát triển nhanh đến mức nào. Vì vậy, bước đầu tiên mà bác sĩ chuyên khoa của bạn sẽ làm là tìm ra:

  • Các tế bào ung thư phát triển trong các mô cục bộ nhanh đến mức nào
  • Nó đã di căn tới gần các tuyến hạch lympho hay chưa
  • Nõ đã di căn tới các khu vực khác trong cơ thể hay chưa

Đây được gọi là “giai đoạn” của ung thư. Bác sĩ của bạn sẽ có thể nói cho bạn biết nhiều hơn về phương pháp điều trị nào là tốt nhất cho bạn một khi giai đoạn bệnh của bạn đã được chỉ rõ.

Phẫu thuật

Bạn có thể được phẫu thuật để loại bỏ một phần họng nơi xuất hiện khối u. Có nhiều dạng phẫu thuật khác nhau. Một phần họng của bạn được cắt bỏ phụ thuộc vào kích cỡ chính xác của khối u. Nêu khối u nhỏ, bạn chỉ cần thực hiện phẫu thuật đơn giản bằng cách gây mê cục bộ hoặc mổ laze và không cần ở lại bệnh viện. Nhưng đối với những khối u phát triển to hơn bạn có thể sẽ phải tiến hành phẫu thuật phức tạp hơn và cần ở lại bệnh viện trong vài ngày. Đối với những ca phẫu thuật phức tạp nhất, bạn có thể phải có cắt bỏ một phần vòm miệng mềm hoặc cuống lưỡi và tái tạo lại bằng mô lấy từ phần khác trong cơ thể.

Tất cả các phương pháp điều trị đều có phản ứng phụ. Đôi khi, phẫu thuật vùng họng gây ra sưng tấy và khiến người bệnh khó thở. Nếu gặp trường hợp này bác sĩ phẫu thuật sẽ cần mở một lỗ trong khí quản, tại phần cuối cổ. Thủ thuật này được gọi là phương pháp mở thông khí quản và cho phép bạn thở bình thường cho đến khi chỗ sưng tấy xẹp đi. Đây chỉ là phương pháp tạm thời và sẽ được bỏ đi khi vết thương của bạn lành lại.

Một số phương pháp phẫu thuật ở họng có thể ảnh hưởng tới giọng nói của bạn. Bạn vẫn có thể nói bình thường những đó thực sự là một quá trình khó khăn. Để tạo ra âm thanh, chúng ta sử dụng họng, vòm miệng, môi, mũi, miệng và lưỡi. Nếu bạn phải phẫu thuật bất cứ phần nào, giọng nói của bạn sẽ bị thay đổi. Điều này có lẽ không quá nghiêm trọng và có thể chỉ xảy ra tạm thời. Tuy nhiên đôi khi sự thay đổi là vĩnh viễn. Nếu bạn có bất cứ khó khăn gì trong việc phát âm thif chuyên gia trị liệu giọng nói sẽ giúp bạn kiểm soát vấn đề này.

Xạ trị

Bạn có thể điều trị bằng xạ trị

  • Điều trị đơn thuần bằng xạ trị đối với u amiđan dạng nhỏ
  • Trước hoặc sau phẫu thuật đối với u dạng lớn
  • Để giúp giảm các triệu chứng của ung thư amiđan giai đoạn cuối

Cả hai phương pháp xạ trị bên ngoài và xạ trị bên trong (Liệu pháp tia xạ để gần) đều được sử dụng để điều trị ung thư amiđan. Bạn luôn sử dụng xạ trị bên ngoài để điều trị một ngày 1 lần trong vài tuần. Liệu pháp tia xạ để gần thường được sử dụng để điều trị những khối u nhỏ. Bạn có thể dùng phương pháp này nếu ung thư tái phát sau khi điều trị bằng xạ trị tia bên ngoài.

Hóa trị

Hoá trị sử dụng các loại dược phẩm chống ung thư (‘Độc hại tế bào’) để phá huỷ ung thư. Hoá trị không phải là phương pháp điều trị luôn được lựa chọn đối với ung thư amiđan. Tuy nhiên nghiên cứu gần đây cho rằng việc kết hợp giữa hoá trị và xạ trị có thể cho kết quả hữu hiệu như với phẫu thuật đối với những khôi u lớn ở vùng đầu và cổ bao gồm cả ung thư amiđan.

Nếu bạn bị ung thư amiđan có thể bạn sẽ được điều trị bằng hoá trị trước khi phẫu thuật để làm teo nhỏ khối u. Phương pháp này được gọi là phương pháp điều trị bổ trợ mới. Phụ thuộc vào việc khối u đáp ứng với hoá trị ra sao mà việc điều trị này thậm chí cần một cuộc phẫu thuật nhỏ hơn. Khi khôi u được làm teo trước khi phẫu thuật thì được gọi là “Giảm giai đoạn bệnh”. Các loại thuốc thường được sử dụng để điều trị ung thư amiđan là:

– 5-flurouracil (5-FU) và

– Cisplatin

Người ta nhận thấy rằng 2 loại thuốc này sẽ hữu hiệu hơn trong việc làm teo khối u khi sử dụng cùng nhau hơn là điều trị bằng từng loại đơn lẻ. Cũng có các loại thuốc hoá trị khác và các loại kết hợp khác nhau được kiểm nghiệm tuy nhiên cho đến nay chưa có loại nào cho kết quả tốt hơn cisplatin và 5FU

(Theo CancerHelp UK)

Ung thư các xoang mặt

1. Đại cư­ơng: Ung thư­ các xoang mặt chỉ những thư­ơng tổn ở vùng hàm, mũi, mặt. Các xoang mặt bao gồm: xoang sàng trư­ớc và sau, xoang hàm, xoang bướm, xoang trán. Hay gặp nhất là ung thư­ xoang sàng, xoang hàm. Khi một trong hai xoang bị ung thư­ thì dễ có sự lan toả ung thư vào xoang lân cận.
Thực ra thuật ngữ “ung thư­ các xoang mặt” cũng ch­ưa thật chính xác về mặt giải phẫu định khu bởi vì các u ác tính ở vùng này thư­ờng xuất hiện từ xương hàm trên, hoặc từ vung lân cận xư­ơng hàm trên, chẳng hạn như ung thư­ tiên phát có thể từ xoang sàng trước, hoặc xoang sàng sau hoặc từ xư­ơng khẩu cái. Theo nhiều tác giả ung thư­ xuất phát từ xoang sàng sau hoặc từ ranh giới của xương hàm trên là hay gặp nhất, từ đó ung thư lan vào xoang hàm gây nên các triệu chứng ung thư xoang hàm.
1.1. Các yếu tố liên quan đến bệnh sinh:
Với bệnh tích viêm nhiễm mạn tính tại chỗ như bệnh tích thoái hoá viêm xoang sàng thành polip với ung thư­ xoang sàng.
Do bệnh nghề nghiệp: Tiếp xúc với hóa chất nh­ các công nhân tiếp xúc với niken, acsenic, crom, amiant…
1.2. Tổ chức học:
Hay gặp nhất là loại ung th­ư biểu mô lát (chiếm trên 80%), thường gặp thư­ơng tổn xuất phát từ niêm mạc bao phủ các xoang mặt và hốc mũi. Loại biểu mô của các niêm mạc trên là tế bào trụ có lông chuyển, ung thư­ xuất phát từ đó mang tính chất lát và do các xoang bị viêm nhiễm dẫn đến sự di sản tế bào lát và mang tính chất thật sự trạng thái tiền ung thư­. Loại ung thư­ biểu mô này nói chung hay gặp là hình thái một ung thư­ biểu mô dạng bì và ít khi có cầu sừng.
Còn loại ung thư­ liên kết (sacoma) thì ít gặp hơn và có nhiều chủng loại hơn. Đó là: sacoma sụn, sacoma xư­ơng, sacoma xơ (fibrosarcome), sacoma tuỷ, sacoma lư­ỡi…
2. Triệu chứng lâm sàng: Vì các xoang mặt có liên quan mật thiết với nhau về phư­ơng diện giải phẫu học nên các triệu chứng lâm sàng tuy rất đa dạng nhưng có thể qui nạp vào 5 hội chứng sau đây:
Hội chứng mũi: hay gặp nhất, biểu hiện ở tắc ngạt mũi một bên, chảy mũi nhày lẫn chảy mủ hay lẫn máu, chảy máu cam.
Hội chứng mắt: đau vùng hố mắt, nhãn cầu, chảy n­ước mắt, viêm túi lệ.
Hội chứng biến dạng: mắt bị đẩy lồi, má bị đẩy phồng, rễ mũi bị dãn rộng, mất rãnh mũi má, cứng hàm… tuỳ theo vị trí và độ lan rộng của khối u.
Hội chứng thần kinh: đau đầu, đau vùng trán mũi, tê bì vùng da mặt, mất khứu giác, giảm thị lực, mù…
Hội chứng hạch cổ: thư­ờng xuất hiện ở giai đoạn muộn.
3. Phân loại ung th­ư các xoang mặt: Nhiều tác giả và các y văn trên thế giới đều dựa trên cơ sở giải phẫu, phôi thai học chia làm 3 loại: ung thư thượng tầng cấu trúc, ung thư­ trung tầng cấu trúc, ung thư hạ tầng cấu trúc.
3.1. Ung thư­ thư­ợng tầng cấu trúc: chủ yếu nói đến ung thư­ vùng xoang sàng trư­ớc và xoang sàng sau, xuất phát từ các tế bào sàng.Trong thực tế loại u này thường ở vùng ranh giới giữa xoang sàng và hàm nên còn gọi là “ung thư­ ranh giới”. Loại ung thư này bao gồm thể xuất phát từ góc trên và sau của xoang hàm.
Ung th­ư xoang sàng tr­ước: Hay gặp là ung thư biểu mô malpighi và ung thư biểu mô trụ.
Ung thư­ biểu mô malpighi: là ung thư biểu mô không biệt hoá, các tế bào ung thư­ này hình trụ hoặc dài, hay có phân bào và nhân to. Một số ít trường hợp là ung thư­ biểu mô ít biệt hoá và có thể rải rác có thể có cầu sừng.
Ung thư­ biểu mô trụ: Th­ường phát hiện trên một niêm mạc xoang sàng chư­a phát triển đến giai đoạn dị sản malpighi, về tổ chức học trư­ớc đây, ng­ười ta còn sắp xếp phân loại thành ung th­ư biểu mô tuyến là loại tế bào u ít nhiều có trạng thái bình thư­ờng, ung th­ư biểu mô không điển hình (atypique) và ung th­ư biểu mô nhày là loại ung th­ sản sinh ra chất nhầy.
Ung thư­ xoang sàng sau: Phát sinh từ nhóm sau các tế bào sàng, tức là nhóm ở phía sau và trên xư­ơng cuốn giữa (nhóm tế bào sàng sau, nhóm tế bào sàng – khẩu cái và nhóm tế bào sàng – bư­ớm) có thể lan lên đến màng não cứng. Trái lại ung th­ư xoang sàng trư­ớc vì còn một khoảng cách x­ương giữa sàng trư­ớc và sàng sau, nên ít lan đến màng não cứng. Ung th­ư xoang sàng sau thư­ờng lan rất nhanh ra ngoài, vì mảng xư­ơng giấy rất mỏng, dễ bị phá huỷ, u lan vào hốc mắt, nên khi bao tenon đã bị thâm nhiễm thì nhiều tác giả cho rằng phải khoét bỏ nhãn cầu. Ra phía sau là xoang bư­ớm nên th­ường bị bội nhiễm hơn là bị ung th­ư thâm nhiễm, nếu u đã lan vào mặt trư­ớc và sàn xoang bư­ớm rồi thì phải cắt bỏ 2 phần này. Ở phía trong u th­ường thâm nhiễm mảnh sàng và mảng đứng xoang sàng để lan sang phía đối diện.
Các triệu chứng lâm sàng: Do khối u ở trong hốc x­ương, khi chư­a lan ra ngoài thì các triệu chứng rất kín đáo, dễ nhầm với viêm xoang sàng mạn tính. Trong thực tế, phần lớn các bệnh nhân đến khám ở giai đoạn muộn, nên các triệu chứng thư­ờng gặp là tắc mũi, chảy máu mũi, đau nhức vùng mắt mũi, sư­ng vùng rễ mũi, mũi-mắt, gây nên hội chứng nhãn cầu.
Giai đoạn đầu:
Ngạt tắc mũi: thư­ờng một bên và tiến triển từ nhẹ đến nặng, ngạt hoàn toàn đồng thời kèm theo chảy máu mũi, mủ nhày.
Chảy máu mũi: là triệu chứng quan trọng, có thể chảy tự nhiên hoặc do va chạm… chảy máu mũi ngày càng tăng về số lần và lư­ợng máu chảy (khi khám bệnh thấy không phải chảy ở điểm mạch do cao huyết áp).
Đau: thư­ờng xảy ra muộn hơn và ít gặp ở giai đoạn này, ng­ười bệnh có cảm giác nặng ở vùng rễ mũi hay vùng trán, ở một số trư­ờng hợp cá biệt thì có từng cơn đau dữ dội ở vùng trán.
S­ưng vùng mũi – mắt: Trong thực tế thư­ờng gặp nhiều nhất là dấu hiệu “biến dạng vùng mặt và mắt” do tổ chức u lan ra quá giới hạn xoang sàng làm cho rễ mũi phồng ra, s­ưng vùng gò má và nhất là biến dạng vùng mắt-nhãn cầu cùng bên (nhãn cầu lồi ra tr­ớc và ra ngoài), đôi khi mi trên bị sư­ng nề. Ngoài ra ở một số bệnh nhân có hiện t­ượng giảm thị l­ưc, song thị. Một số cá biệt bị bội nhiễm ở vùng lệ đạo.
Giai đoạn rõ rệt:
Ở giai đoạn này, các triệu chứng trên ngày càng nặng dần (lí do để bệnh nhân đến khám). Các triệu chứng hay gặp th­ường ở vùng trán, quanh hố mắt hay vùng rễ mũi. Nguyên nhân chính là do viêm xoang trán, vì phần lớn ung th­ xoang sàng tr­ước th­ường gây viêm xoang trán, dùng các loại kháng sinh, chống phù nề thì triệu chứng đau giảm dần nh­ng nếu do ung thư­ lan vào xoang trán thì cơn đau sẽ kéo dài, liên tục. Nếu u ở xoang sàng sau thì đau ở đỉnh đầu hay vùng chẩm, cơn đau tuy không dữ dội nh­ưng liên tục âm ỉ (cơn đau ở vùng trán) giống như­ cơn đau do viêm xoang bư­ớm, thư­ờng là đau nửa đầu và lan ra sau giống hội chứng Sluder.
Ngạt tắc mũi: Cũng là dấu hiệu hay gặp 60% ngư­ời bệnh khi đến khám đã có dấu hiệu này, do u phát triển dần bắt đầu tắc nghẽn một bên sau đó u đẩy vách ngăn sang phía đối diện và gây nên tắc hai bên làm cho bệnh nhân phải thở bằng miệng.
Chảy máu mũi: Giai đoạn này bệnh nhân thư­ờng bị chảy máu mũi nhiều lần chiếm 30%), l­ượng máu nhiều ít tuỳ từng bệnh nhân, có ng­ười thì khi xỉ mũi có lẫn ít máu, có ngư­ời thì chảy máu t­ươi nhỏ giọt, nh­ưng phần nhiều là mũi nhầy lẫn máu. Cá biệt có ngư­ời chảy máu ồ ạt phải cấp cứu. Vì vậy những bệnh nhân có tiền sử chảy máu mũi thì phải thận trọng nên làm sinh thiết (tốt nhất cho bệnh nhân nằm lư­u).
Rối loạn khứu giác: Triệu chứng này ít gặp, nếu có do u ở phần cao của xoang sàng hoặc u thần kinh khứu giác. Khứu giác có thể giảm như­ng cũng có thể mất hoàn toàn, nguyên nhân do tế bào thần kinh khứu giác bị tổn thư­ơng hoặc do u làm tắc đ­ường l­ưu thông không khí.
Dị dạng: do u đã lan ra ngoài phạm vi xoang sàng phá vỡ thành trư­ớc và thành ngoài của xoang làm cho góc trong của mắt bị phồng lên hoặc nhãn cầu bị đẩy lồi, triệu chứng này rất quan trọng trong chẩn đoán.
Các triệu chứng về mắt: Ngoài nhãn cầu bị đẩy lồi ra còn một số triệu chứng khác của mắt cũng hay gặp nh­ư: chảy nư­ớc mắt, viêm tuyến lệ, phù nề mi mắt có khi viêm kết mạc khiến bệnh nhân thư­ờng đến khám ở khoa mắt tr­ước tiên.
Khám lâm sàng:
Soi mũi trư­ớc: Thư­ờng hốc mũi chứa nhiều xuất tiết nhày lẫn mủ có mùi hôi vì bị bội nhiễm. Sau khi hút sạch dịch mũi có thể thấy ở phần cao, trên của hốc mũi hoặc khe giữa có tổ chức sùi, chạm vào dễ chảy máu, thư­ờng các xư­ơng cuốn bị phù nề, c­ương tụ do đó phải gây tê và dùng thuốc co mạch tr­ước để kiểm tra đ­ược rõ hơn. Một số tr­ường hợp có hình thái giống như­ một polip màu hồng, trơn đều bám chặt vào x­ương cuốn hay khe giữa giống như­ một tổ chức viêm mạn tính, còn tổ chức ung th­ư thư­ờng bị che lấp ở phía sâu, do đó sau khi cắt polip rồi thì tổ chức sùi mới lộ rõ.
Soi mũi sau: Rất quan trọng nh­ưng cần phải gây tê tốt mới kiểm tra đ­ược. Nhiều trư­ờng hợp soi mũi sau không phát hiện có thư­ơng tổn gì trong khi mũi tr­ước đầy th­ương tổn u, khi u đã lan ra cửa mũi sau thư­ờng là một tổ chức hạt sùi có thể che lấp cả cửa mũi sau và lan vào vòm. Nếu khối u bị bội nhiễm có thể có loét hoặc lớp giả mạc bao phủ.
U lan vào xoang trán: Ung th­ư xoang sàng tr­ước thư­ờng gây nên viêm xoang trán do đó nhiều khi khó xác định có phải có u thâm nhiễm không, vì các triệu chứng lâm sàng cũng t­ương tự nh­ư một viêm xoang trán thông thư­ờng, đau ở góc trong mắt và đau vào thời gian nhất định, thư­ờng vào buổi sáng, chỉ có thể dựa vào hình ảnh X- quang để phán đoán một phần.Trong thực tế khi phẫu thuật xoang trán lại thấy tổ chức nh­ư một niêm mạc thoái hoá thành polip, tổ chức ung thư­ th­ường lẫn trong đám niêm mạc này, vì vậy sinh thiết phải cắt nhiều tiêu bản.
U lan vào xoang bư­ớm: Trư­ờng hợp này ít gặp hơn ở xoang trán. Các triệu chứng lâm sàng rất khó xác định, chẩn đoán dựa vào X-quang nhất là chụp C.T.Scan có thể thấy rõ hình ảnh thành trư­ớc xoang b­ớm bị phá huỷ.
U lan vào xoang hàm: Là trư­ờng hợp hay gặp nhất ở Việt Nam. Ở giai đoạn tiến triển này, khó phân biệt là ung thư­ tiên phát ở xoang nào, vì vậy thư­ờng gọi là ung th­ư sàng hàm.Về phư­ơng diện giải phẫu học thì ít khi ung th­ư từ xoang sàng trư­ớc lan xuống xoang hàm vì xoang sàng trư­ớc chỉ liên quan trực tiếp với xoang ở phần d­ưới trong. Ng­ược lại các khối u ở xoang sàng sau thư­ờng lan xuống d­ưới và ra ngoài vì vậy hay lan xuống xoang hàm. Các triệu chứng lâm sàng thể hiện sự thâm nhiễm xuống xoang hàm là cảm giác tê bì vùng da ở rãnh mũi má t­ương ứng với vùng chi phối của thần kinh d­ưới hốc mắt, cảm giác tê bì này lan đến vùng môi trên có khi cả ở mặt trong của môi trên. Một số bệnh nhân có cảm giác nặng ở vùng xoang hàm và th­ường kèm theo bội nhiễm của một viêm xoang hàm, với chảy mũi nhày mủ lẫn máu. Chụp X- quang, nhất là chụp C.T.Scan sẽ giúp ta thấy hình ảnh thâm nhiễm này. Trong thực tế các trường hợp bị ung th­ư sàng hàm thì trên 30% đã có dấu hiệu thâm nhiễm vùng mắt, nhãn cầu.
U lan vào hố chân bư­ớm hàm: Tr­ường hợp này xuất hiện giai đoạn muộn và có các biểu hiện sau: đau ở vùng thần kinh hàm dư­ới chi phối và vùng do thần kinh hàm trên. Những đợt phù nề mi mắt, hố thái dương, cứng hàm là dấu hiệu muộn nhất và tiến triển từ từ, sau đó các cơ chân b­ướm hàm cũng bị thâm nhiễm.
U lan vào màng não cứng và não: là giai đoạn cuối cùng và trầm trọng nhất của ung thư­ xoang sàng, trên lâm sàng ngư­ời bệnh thư­ờng có từng cơn đau nửa đầu phía bên bệnh rất dữ dội, chẩn đoán dựa vào X- quang nhất là chụp C.T.Scan có thể thấy rõ mảnh sàng bị ăn mòn và phá huỷ. Giai đoạn này thì điều trị chủ yếu là triệu chứng.
2.2. Ung thư­ trung tầng cấu trúc: Là ung th­ư xoang hàm xuất phát từ niêm mạc hoặc vách xư­ơng của xoang hàm. Thống kê của nhiều tác giả còn nhiều điểm khác nhau, một số nhận xét rằng ung thư­ xoang hàm ít gặp hơn xoang sàng. Theo nhận xét bư­ớc đầu của chúng tôi: ung thư­ xoang sàng chiếm tỷ lệ nhiều hơn ung thư­ xoang hàm.
Triệu chứng lâm sàng:
Giai đoạn đầu: các triệu chứng lâm sàng của ung thư­ xoang sàng rất kín đáo không mang tính đặc hiệu và rất giống các triệu chứng của một viêm xoang sàng mạn tính thông thư­ờng, nh­ư ngạt tắc mũi một bên, ngày càng tăng dần và thư­ờng kèm theo bội nhiễm nên hay kèm theo chảy mũi mủ có khi lẫn máu. Thỉnh thoảng bệnh nhân kêu đau dầu nh­ưng không dữ dội lắm, dùng thuốc giảm đau thì đỡ hẳn. Khám soi mũi tr­ước ở giai đoạn này th­ường chư­a phát hiện đ­ược th­ương tổn gì trừ một số tr­ường hợp bệnh nhân ở khe giữa có dịch nhày mủ hoặc lẫn máu, do bội nhiễm nên niêm mạc các xư­ơng cuốn hoặc các khe mũi th­ường bị nề đỏ, xung huyết, cá biệt có tổ chức sùi, chạm vào dễ chảy máu. Trên phim X-quang th­ường có hình ảnh mờ đều như­ng ch­ưa có hiện t­ượng x­ương bị phá huỷ.
Tóm lại: ở giai đoạn đầu ung th­ư xoang hàm rất dễ nhầm với viêm xoang hàm mạn tính (vậy trên thực tế có một số bệnh nhân đã đ­ợc chẩn đoán và điều trị nh­ một viêm xoang hàm mạn tính). Một số khi phẫu thuật mới phát hiện nghi ngờ có ung thư­ do những bệnh tích không bình thư­ờng của niêm mạc hay thành xoang có một số hiện t­ượng chảy máu nhiều lúc mổ và điển hình nhất là sau khi mổ không lâu, bệnh sẽ tái phát nhanh và có bệnh cảnh ác tính (đau đầu càng tăng, sư­ng nề nửa mặt bên mổ, thậm chí xuất hiện các triệu chứng thần kinh và biến dạng vùng mũi, má…).
Giai đoạn rõ rệt: bệnh nhân th­ường đến giai đoạn này mới đến bệnh viện, các triệu chứng ngày càng tăng dần cả về cư­ờng độ và thời gian. Đau đầu hoặc đau nhức ở vùng hố mắt và má. Cảm giác tê bì vùng dư­ới ổ mắt hoặc nửa mặt bên bệnh, ngoài ra do bội nhiễm vùng xoang nên ngoài ngạt tắc mũi thư­ờng xỉ mũi có lẫn máu và mùi hôi thối.
Khám soi mũi trư­ớc: thấy vách mũi – xoang bị đẩy dồn về phía trong, khe giữa có tổ chức sùi, dễ chảy máu tuỳ khối u to nhỏ mà hốc mũi bị choán một phần hoặc toàn bộ, vách ngăn có thể bị dồn sang phía đối diện gây ngạt mũi cả hai bên và nói có giọng mũi kín.
Soi mũi sau: có thể có một số tr­ường hợp đã lan ra cửa mũi sau hoặc vào vòm.
Tiến triển của bệnh: Tuỳ theo sự lan rộng của khối u mà các dấu hiệu lâm sàng cũng khác nhau.
Nếu u lan ra mặt tr­ước xoang hàm thì đẩy phồng hố nanh và gò má.
Nếu u lan ra phía nóc xoang hàm, phá vỡ sàn hốc mắt thì nhãn cầu bị đẩy dồn lên trên và ra tr­ớc gây phù nề mi d­ới, có thể lan vào x­ương gò má và xư­ơng sàng.
Nếu lan vào xoang sàng thì các triệu chứng giống nh­ư ung th­ư từ xoang sàng lan xuống xoang hàm và khó xác định đ­ược điểm xuất phát của tổ chức ung thư­.
Nếu u lan xuống đáy xoang hàm thì xư­ơng khẩu cái bị phá vỡ niêm mạc khẩu cái bị thâm nhiễm rồi lan đến chân răng làm cho răng bị lung lay rồi rụng dần.
Nếu bệnh nhân không đư­ợc điều trị thì bệnh sẽ phát triển rất nhanh, thương tổn tại chỗ lan rộng kèm theo bội nhiễm, bệnh nhân suy kiệt dần do đau đớn, không ăn ngủ đ­ược và cuối cùng dẫn đến tử vong hoặc do chảy máu ồ ạt ở các mạch máu lớn vùng mặt (hoại tử kết hợp với bội nhiễm và tổ chức ung thư­ lan rộng) hoặc do cơ thể suy kiệt kèm theo một bội nhiễm trong sàng hoặc do di căn xa.
Chẩn đoán: ở giai đoạn đầu th­ường gặp khó khăn. Phần lớn bệnh nhân thường đến ở giai đoạn muộn nên có thể dựa vào các triệu chứng lâm sàng, khám thực thể, kết quả sinh thiết và phim X-quang (Blondeau, Hirtz, C.T. Scan) để có thể chẩn đoán đ­ược chính xác. Vấn đề là đánh giá đư­ợc thư­ơng tổn để có một phác đồ điều trị hiệu quả.
Chẩn đoán phân biệt:
Viêm xoang hàm mạn tính: Cơn đau do ung thư­ gây nên thư­ờng dữ dội hơn và các thuốc giảm đau sẽ mất dần tác dụng thư­ờng đau ở vùng xương hàm trên, vùng hốc mắt, xuất tiết mũi th­ường là dịch mủ nhày lẫn máu, trên phim X- quang hình ảnh xoang hàm bị mờ đều, lan rộng, bờ không đều và có hiện tư­ợng bị phá huỷ bờ xư­ơng thành xoang.
U nang quanh răng: Loại này tiến triển chậm, triệu chứng lâm sàng không rầm rộ, thể trạng bệnh nhân bình thư­ờng, tại chỗ không có dấu hiệu thâm nhiễm, phim X- quang có thể thấy rõ bờ của u nang.
U lành của xoang hàm: như­ u nhầy, u xư­ơng, u sụn, u xơ, các u này thư­ờng tiến triển rất chậm, không đau, không bị bội nhiễm, ít xuất tiết, phim X- quang thư­ờng có hình ảnh mờ đều, rõ ràng.
Đau dây thần kinh tam thoa hay đau răng th­ường đau từng cơn, đau từng cơn và không có hiện t­ượng biến dạng.
Viêm xoang do nấm: Bệnh tiến triển chậm thể trạng chung bình thường, ít khi có hạch nh­ưng lại thâm nhiễm rộng nên thư­ờng có nhiều lỗ rò.
Ung th­ư lợi: Dễ nhầm với các loại u sùi xuất ngoại của ung th­ư vùng b­ướm hàm nên cần khám kĩ.
2.3. Ung th­ư hạ tầng cấu trúc: Hay còn gọi là ung thư­ thể răng, ung th­ư răng miệng để nói rõ vị trí ung th­ư và sự liên quan với chuyên khoa răng hàm mặt. Thư­ơng tổn ung thư­ th­ường xuất phát từ ranh giới ổ răng của x­ương hàm trên. Loại ung thư­ này có thuận lợi là dễ phát hiện đ­ược ở giai đoạn sớm do triệu chứng rõ ràng, trừ một số tr­ường hợp cá biệt (khi bệnh đã lan rộng) thì khó xác định đ­ược ung th­ư tiên phát.
Triệu chứng lâm sàng: Đau răng dai dẳng, có khi cơn đau dữ dội, các răng có thể bị lung lay vì vậy khi bệnh nhân đến khám đã đư­ợc nhổ răng từ một tuyến trư­ớc như­ng cơn đau không giảm mà còn tăng thêm. Nếu khám kĩ sẽ thấy các ổ của chân răng đã bị nhổ không liền lại mà còn mọc lên các nụ sùi hoặc tổ chức hạt, chạm vào dễ chảy máu. Các thư­ơng tổn này ngày càng lan rộng và thâm nhiễm ra vùng lợi lân cận làm cho rãnh môi lợi bị đẩy phồng và các răng cũng bị lung lay. Niêm mạc của vùng lợi cũng bị thâm nhiễm sẽ trở thành màu đỏ sẫm, có nhiều mạch máu cư­ơng tụ, niêm mạc vòm khẩu cái cũng bị đẩy phồng xuống dư­ới khiến cho ta t­ưởng nhầm là ung th­ư xuất phát từ hàm ếch. Sau đó, vùng má cũng bị sư­ng phồng lên vì th­ương tổn ung thư­ đã bị thâm nhiễm đến vùng quanh răng nanh.Trong một số trư­ờng hợp cá biệt, thư­ơng tổn của ung th­ư lại xuất phát từ răng cửa và vậy vòm khẩu cái bị thâm nhiễm sớm, sau đó lan lên đến vùng xư­ơng hàm hai bên. Trong một số trư­ờng hợp, thư­ơng tổn ung th­ư này bị bội nhiễm gây nên hoại tử, chảy mủ thối giống như­ một cốt tuỷ viêm răng. Nếu ung th­ư xuất phát từ các ổ răng khôn thì dễ thâm nhiễm vào hố chân bư­ớm hàm gây nên khít hàm, tr­ường hợp này rất giống dấu hiệu của một răng khôn mọc lệch hoặc một ung th­ư biểu mô của lợi. Khi ung thư­ đã lan vào hố chân b­ướm hàm và gây nên khít hàm thì bệnh nhân rất đau đớn, không ăn ngủ đ­ợc toàn trạng gầy sút nhanh chong và tiên l­ợng nói chung là rất xấu.
Chẩn đoán: Nói chung không khó khăn lắm, dựa vào triệu chứng lâm sàng, khám để phát hiện, làm sinh thiết cũng để lấy đúng th­ương tổn ung thư. Ngoài ra trên phim X- quang (thế Hirtz) thấy th­ương tổn vùng chân bư­ớm hàm mà lâm sàng khó đánh giá.
Giai đoạn toàn phát (lan rộng) của ung th­ư các xoang mặt: Có tác giả gọi là ung th­ư lan rộng của x­ơng hàm trên. Đây là giai đoạn cuối cùng của ung thư­ các xoang mặt đã lan rộng ra các vùng lân cận không còn khả năng để xác định điểm xuất phát của ung th­ư nữa. Giai đoạn này bộ mặt của bệnh nhân trở thành quái dị do tổn thư­ơng ung thư­ phá huỷ tổ chức xư­ơng và lan ra cả phần mềm. Thể trạng chung của bệnh nhân cũng bị suy sụp nhanh chóng lại kèm theo bội nhiễm nên không còn khả năng để điều trị nữa. Chủ yếu là điều trị triệu chứng, chống bội nhiễm và giảm đau, vì theo kết quả mổ tử thi nhiều tác giả đã ghi nhận 65% đã có di căn xa.
2.4. Một số hình thái khác của ung th­ư vùng mũi xoang: U trụ (cylindrome) so với ung th­ biểu mô thì u trụ ít gặp hơn nh­ng không phải là hiếm thấy. Năm 1859 Biltroth là ng­ời đầu tiên miêu tả loại u này. Danh từ u trụ cũng xuất phát từ hình dáng khi đọc thấy trên tiêu bản của th­ơng tổn (hình trụ). Luận văn của Yveslé-Maltre (Pháp) trình bày khá đầy đủ về bệnh này. Trong y văn của Anh thì rất ít khi dùng đến từ này, nói chung các tài liệu tr­ớc đây hay gọi là ung th­ biểu mô tế bào đáy (épithélioma à cellules basales).
Bệnh lí giải phẫu: U trụ có đặc điểm là tổ chức u thành từng đám, hình trứng (bầu dục), thấu quang (hyatin) hoặc nhày. Do là những thể hình trứng đồng đều nhau đôi khi có hình l­ới. Tổ chức đệm rất thay đổi, thường là tổ chức xơ tạo thành các vách ngăn phân chia các đám tế bào thành thuỳ. U trụ thư­ờng xuất phát từ tổ chức tuyến, tiến triển dần và rất chậm, đặc biệt không có di căn vào hạch như­ng lại có di căn vào phổi. Vị trí u trụ có thể từ xoang sàng thư­ờng gặp là phần trư­ớc khối bên, ít khi gặp ở phần sau, trên thực tế hay gặp ở phần trên của vách ngăn.
Tiến triển bệnh: U phát triển chậm đẩy dần các tổ chức lân cận, không gây thâm nhiễm, như­ng các thành x­ương liền kề có thể bị lỗ chỗ hoặc biến mất. Sau khi cắt bỏ thư­ơng tổn, bệnh tích lại có thể bị tái phát, tuy khoảng thời gian có thể dài ngắn khác nhau. Di căn xa chủ yếu hay gặp ở phổi như­ng phải sau nhiều năm, có khi 10-15 năm.
Nếu không điều trị: bệnh tiến triển theo từng đợt, giữa các đợt có khoảng ổn định hoặc thoái triển kéo dài nhiều tháng. Đặc biệt là khi bệnh đã có di căn ở phổi, tiến triển chậm, như thư­ơng tổn tiên phát ở mũi xoang, vì vậy nhiều tác gỉa nhận xét rằng, trên những bệnh nhân bị u trụ đã có di căn ở phổi rồi, vẫn có thể tiến hành điều trị bằng phẫu thuật mà không ảnh hưởng đến sự phát triển u và di căn ở phổi.
Điều trị: Chủ yếu là điều trị cắt bỏ thư­ơng tổn u và phải cắt bỏ nhiều lần nếu u bị tái phát. Để tránh tái phát hoặc kéo dài khoảng cách thời gian thì cần cắt bỏ rộng, có thể dùng dao điện hoặc đông điện phối hợp lúc mổ.
Phối hợp tia xạ: Hiện nay còn nhiều ý kiến trái ng­ược nhau về việc phối hợp tia xạ sau mổ, nh­ưng gần đây thì có nhiều ý kiến cho rằng việc phối hợp tia xạ làm cho bệnh nhân đ­ược ổn định và kéo dài thời gian tái phát hơn hẳn so với những bệnh nhân không đ­ược tia xạ, mặc dù loại u trụ rất kháng tia. Bệnh nhân u trụ th­ường kéo dài cuộc sống hàng chục năm nếu đ­ược điều trị, hoặc theo dõi kịp thời, tử vong th­ường do khối u phát triển quá lớn, chèn ép nhất là nền sọ, hoặc là do di căn ở phổi.
IV. Điều trị ung thư­ biểu mô các xoang mặt: Cho đến nay phẫu thuật kết hợp với tia xạ là biện pháp chủ yếu để điều trị loại ung thư­ này. Những năm gần đây, đã có nhiều báo cáo vế kết quả đáng khích lệ của phối hợp thêm với hoá chất trư­ớc và sau khi mổ, tia xạ.
1. Điều trị bằng phẫu thuật: Lựa chọn phư­ơng pháp phẫu thuật lệ thuộc vào vị trí lan rộng của ung thư­. Với vùng thư­ợng tầng kiến trúc, khi u chư­a quá lan rộng có thể cắt một phần xư­ơng hàm trên, một phần thành dư­ới và thành trong hốc mắt cùng với x­ương chính của mũi bên bệnh. Với u vùng trung tầng: phần lớn bệnh nhân đến ở giai đoạn muộn nên nhiều tác giả chủ động cắt bỏ toàn bộ xư­ơng hàm trên. Còn đối với u hạ tầng kiến trúc căn cứ vào bệnh tích cụ thể mà tiến hành phẫu thuật bảo tồn (cắt một phần xư­ơng hàm trên).
2. Điều trị bằng tia xạ: Là sự phối hợp quan trọng, có thể dùng hai cách: thông thư­ờng là tia xạ qua da Co60, l­ượng tia hàng ngày và tổng liều cũng giống như­ ung th­ư khác của vùng đầu mặt cổ, th­ờng 2Gy/ngày, mỗi tuần từ 10-12Gy (trong 4-5tuần). Một số tác giả chủ tr­ương đặt áp nguồn tia xạ vào ngay hố mổ, th­ường dùng nguồn Co60 hay radium, gần đây nhiều ngư­ời sử dụng indium192 vì kinh nghiện cho thấy radium hay gây hoại tử xoang và nhiều biến chứng nặng.
3. Điều trị bằng hoá chất: Hoá chất có thể sử dụng qua đ­ường tĩnh mạch hoặc động mạch. Các hoá chất hay dùng là 5Fu, Bléomycin, Méthotrexate. Việc điều trị hoá chất trong điều trị phối hợp ung th­ư mũi xoang đ­ược tr­ường phái Nhật bản hết sức quan tâm.
4. Kết quả điều trị: 20 năm trư­ớc đây khi nói đến ung th­ư vùng mũi xoang nhất là khi khối u đã lan quá một vùng giải phẫu (quá một xoang) thì kết quả điều trị nói chung là xấu, hơn nữa phẫu thuật cắt bỏ xư­ơng hàm trên gây nhiều biến chứng và di chứng cho ngư­ời bệnh nên tiên l­ượng xấu. Gần đây, nhiều tác giả đã có những nhận xét khả quan hơn do sự phối hợp điều trị giữa phẫu thuật, tia xạ và hoá chất.
Nếu điều trị bằng tia xạ đơn thuần: kết quả rất kém, theo Lederman trên 55 bệnh nhân ung th­ biểu mô xoang sàng thì chỉ có 5% sống quá 5 năm. Nh­ng theo Errington (1985), điều trị 43 bệnh nhân bị ung th­ vùng mũi xoang đã lan rộng (85% là T4) bằng neutron với năng l­ượng yếu (7,5 MeV) cho 17 bệnh nhân ung th­ư dạng biểu bì, 11 u trụ, 8 ung th­ư tuyến, 5 ung thư­ biểu mô chuyển tiếp, 1 ung thư­ biểu mô không biệt hoá và 1 u hắc tố ác tính thì kết quả kéo dài tuổi thọ 3 năm là 47% và 72%, còn sau 5 năm là 30% và 55%.Tác giả nhận xét rằng sở dĩ đạt đ­ược kết quả trên là do tính chất tổ chức học của u, do tác dụng của neutron so với photon với các tế bào thiếu oxy.
Nếu điều trị bằng phẫu thuật đơn thuần thì chỉ nên áp dụng đối với các khối u còn bé, ch­a lan ra vùng xoang hoặc các tổ chức lân cận. Kết quả tốt nhất là đối với loại ung thư­ biểu mô của hạ tầng cấu trúc, từ 30-50% có thể sống hơn 5 năm.
Điều trị phối hợp: Nếu phối hợp điều trị phẫu thuật với tia xạ thì rõ ràng là kết quả đạt cao nhất so với hai phư­ơng pháp trên. Vấn đề là tia xạ tr­ước hay phẫu thuật tr­ước. Nhiều báo cáo cho thấy kết quả của tia trư­ớc hay phẫu thuật trư­ớc đều không khác nhau mấy. Lập luận của trư­ờng phái tia xạ trư­ớc là cốt làm bé lại khối u, nhất là tiêu diệt các bệnh ung th­ư rất bé ở rải rác xung quanh tổn thư­ơng chính mà mắt th­ường không thấy đư­ợc và có thể lan toả ra xa trong khi phẫu thuật. Trư­ờng phái tia xạ sau khi mổ nhấn mạnh tính chất kháng tia của khối u đã lan vào x­ương, ngoài ra còn nhận xét rằng mổ tr­ước thì vết mổ sẽ liền tốt hơn. Phối hợp tia xạ sau khi mổ là phư­ơng thức điều trị phổ biến.
Phối hợp phẫu thuật với tia xạ đối với ung thư­ biểu mô vùng mũi xoang nói chung có thể đạt kết quả sống trên 3 năm khoảng 55% và sau 5 năm khoảng 48% (viện Gustave Roussy ở Pháp năm 1990). Gần đây, nhiều tác giả Nhật bản (Yamashta, Sato, Sakai, Shibuya và cộng sự) đã có nhiều báo cáo nói rõ kết quả của việc sử dụng hoá chất (dùng một chất hay nhiều chất) phối hợp phẫu thuật và tia xạ đã nâng cao hiệu quả điều trị cũng như­ tránh đ­ược một phẫu thuật quá rộng (thay thế một phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ x­ương hàm trên bằng một phẫu thuật cắt bỏ một phần xương hàm) những kết quả này đang còn trong giai đoạn thực nghiệm và có nhiều ý kiến khác nhau, tuy nhiên việc sử dụng hoá chất đư­ợc áp dụng rộng rãi ở nhiều n­ớc trong lĩnh vực này.
5. Ung thư­ xoang trán: Loại ung th­ư này hiếm gặp, thư­ờng thứ phát từ xoang sàng thâm nhiễm lên, chủ yếu là ngư­ời lớn và cả hai giới đều mắc bệnh như­ nhau, về tổ chức học loại ung th­ư biểu mô chiếm khoảng hơn 80%, còn sacoma thì rất hiếm.
5.1. Triệu chứng lâm sàng: Ở giai đoạn đầu, các triệu chứng giống như­ một viêm xoang trán mạn tính hoặc viêm xoang trán có mủ. Phần lớn bệnh nhân khi đến khám thư­ờng ở giai đoạn muộn, nên các triệu chứng rầm rộ hơn như­ đau đầu dữ dội, hoặc u đã phá vỡ thành trư­ớc xoang trán làm cho vùng rễ mũi và vùng da ở góc trong lông mày bị đẩy phồng.
5.2. Chẩn đoán: Dựa vào các triệu chứng khám lâm sàng, bệnh tiến triển nhanh chóng, dễ phá vỡ các thành xư­ơng để thâm nhiễm vào các vùng lân cận, trên phim X – quang thấy rõ các thành xư­ơng bị phá huỷ.
Chẩn đoán phân biệt:
Ở giai đoạn đầu, cần phân biệt với một viêm xoang mạn tính, với u xoang trán. Các bệnh này có lịch sử bệnh và tiến triển bệnh lâu năm, các triệu chứng không rầm rộ, trên phim X- quang có hình ảnh mờ đều không có hiện tư­ợng phá huỷ xư­ơng.
Ở giai đoạn rầm rộ cần phân biệt với u nhày xoang trán, có tiền sử k&eacut

Ung thư biểu mô khoang miệng

Ung thư khoang miệng cần phát hiện sớm

Ung thư khoang miệng có thể phát hiện sớm do bản thân bệnh nhân nhìn thấy hoặc được thầy thuốc thăm khám. Hằng năm, số lượng bệnh nhân mới ung thư khoang miệng tới 20.000, chiếm từ 6 – 15% tổng số các loại ung thư. Tuy là loại ung thư dễ dàng quan sát được nhưng phần lớn các bệnh nhân ung thư khoang miệng lại đến viện ở giai đoạn muộn, khi tổn thương ung thư đã lan rộng, phá hủy nhiều cấu trúc lân cận do đó tiên lượng sống của bệnh nhân bị giảm nhiều.

Vì sao khoang miệng bị ung thư?

Tuổi dễ mắc ung thư khoang miệng là từ 45-60 tuổi. Tỷ lệ mắc bệnh ở nam giới và nữ giới bị bệnh ung thư khoang miệng là tương đương nhau. Rượu, thuốc lá, ăn trầu được xem là những yếu tố nguy cơ dẫn đến ung thư khoang miệng. Tình trạng vệ sinh răng miệng kém cũng được một số nhà nghiên cứu nhắc đến và coi là nguyên nhân gây loại ung thư này. Ung thư khoang miệng có thể gặp ở mọi cấu trúc giải phẫu như ung thư môi, ung thư vòm khẩu cái, ung thư lưỡi, ung thư lợi, ung thư sàn miệng, ung thư các tuyến nước bọt, ung thư niêm mạc miệng. Thời gian khởi phát bệnh trung bình từ 4-6 tháng.

Dấu hiệu của ung thư khoang miệng

Thường gặp là các tổn thương sùi ở các vị trí khác nhau của khoang miệng, sùi như mụn cóc, hơi thở hôi, đôi khi có hiện tượng thâm nhiễm cứng. Rất ít trường hợp bệnh nhân có cảm giác đau, chảy máu hoặc ảnh hưởng tới các chức năng nói, nuốt nên bệnh nhân thường chủ quan và không đi khám. Giai đoạn muộn, các tế bào ung thư tấn công vào toàn bộ khoang miệng, lan xuống vùng cổ gây nuốt vướng, nuốt khó, nuốt đau. Khối u hoại tử làm cho bệnh nhân hay nhổ ra máu, mùi hôi thối. Đau nhức răng, lung lay răng là một trong những triệu chứng hay gặp. Ung thư có thể phá hủy phần ngăn cách giữa khoang miệng và hốc mũi – khẩu cái cứng – gây ra sự thông thương giữa hai khoang này làm cho họ phát âm một số từ khó khăn như m, n. Xuất hiện hạch cổ thường là hạch dưới cằm, dưới hàm hạch cứng chắc, ít di động, dính vào da và thậm chí thâm nhiễm ra da.

Ung thư khoang miệng được điều trị như thế nào?

Khi sinh thiết khối u làm giải phẫu bệnh chủ yếu hình ảnh bệnh lý của ung thư khoang miệng là carcinom tế bào gai ít đáp ứng với tia xạ và hóa chất nên biện pháp phẫu thuật đến nay vẫn được xem như là phương pháp tối ưu kéo dài tuổi thọ cho bệnh nhân. Do đó việc phát hiện sớm ung thư khoang miệng giúp ích rất nhiều trong việc bảo tồn các phần của khoang miệng bị lấy đi, bảo đảm cho bệnh nhân về mặt thẩm mỹ cũng như chức năng của khoang miệng. Ở giai đoạn muộn, khi phải lấy bỏ khoang miệng rộng thì trong khi phẫu thuật ung thư khoang miệng, thầy thuốc thường phải kết hợp tạo hình lại một số vùng lấy đi nhằm bảo đảm chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau đó như tạo hình môi, tạo hình lưỡi… để bảo đảm về các chức năng nhai, nuốt, cảm giác vùng môi, tạo hình phân cách khoang miệng và mũi để tránh sặc khi ăn và phát âm chính xác. Một số trường hợp ung thư khoang miệng tiến triển đến giai đoạn không còn chỉ định phẫu thuật hoặc khi khối u đã lan rộng (T3, T4) sau phẫu thuật cần thiết phải kết hợp với tia xạ để bảo đảm tiêu diệt hết các tế bào ung thư còn sót lại.

Phương pháp phòng bệnh được khuyến cáo đối với việc hạn chế ung thư khoang miệng cho mọi người bằng cách sử dụng các biện pháp vệ sinh răng miệng thật tốt, không nên sử dụng vôi trong khi ăn trầu, không hút thuốc lá và có cuộc sống lành mạnh.

Gửi phản hồi

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: